Sign up

This page looks plain and unstyled because you're using a non-standard compliant browser. To see it in its best form, please upgrade to a browser that supports web standards. It's free and painless.

Tin Buồn





Tin buồn : Cụ ông Bùi Trần Lan, thân phụ anh Từ Vũ, vừa từ trần vào lúc 0 giờ 30 phút sáng ngày 10 tháng 10 năm 2010 (03 tháng 9 Âm lịch) tại Sàigòn hưởng thọ 91 tuổi - Ban biên tập Việt Văn Mới - Newvietart chân thành phân ưu cùng anh chị Từ Vũ & Nguyễn Thị Dị. Cầu chúc hương hồn cụ Ông sớm được phiêu diêu nơi miền Cực Lạc .

BBT . Việt Văn Mới  - Newvietart


http://newvietart.com

Viết bởi vietvanmoi, 11 October 2010 04:04 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

TỰ DO HAY CHẾT tiểu thuyết của Nikos Kazanzaki - TỪ VŨ chuyển dịch









Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis



TỪ VŨ
phóng dịch

để kính tặng những người
còn thực sự nhớ đến những chữ :

- Tự Do - Độc Lập - Hạnh Phúc -

Từ Vũ

LƯỢC TRUYỆN :

Nối tiếp nhau, từ đời cha cho tới đời con, người dân đảo Crète (Hy Lạp) truyền lại cho nhau nỗi căm hận về kẻ xâm lược Thổ , những kẻ đã chiếm đóng , đàn áp các sắc dân không theo Hồi giáo tại cá quốc gia trong vùng Balkan kể từ ngày thành phố Constantinople (Istanbule hiện tại) bị người Thổ đánh chiếm : gần bốn thế kỷ thù hận, nguồn gốc của những cuộc nổi dậy và bị tàn sát không ngừng lặp đi lặp lại.
Năm 1821 đánh dấu bởi sự vùng dạy dành độc lập của các nước láng giềng . Tại Hy Lạp nói chung và tại Crète nói riêng, những người dân tự hỏi : Bao giờ mới tới lượt mình?
Mỗi mùa xuân, mùa của đổi mới, câu hỏi làm tâm trí mọi người Hy Lạp ở Crète chao đao hơn bao giờ hết và chỉ cần một sự kiện thật nhỏ nhặt cũng đủ là nguyên cớ cho toàn đảo Crete bốc cháy. Tại các đô thị và tại dinh thống đốc, người thống đốc Thổ và người lãnh đạo dân Thiên chúa giáo địa phương phải có trách nhiệm ngăn ngừa trận "hỏa hoạn" này.
Đó là lý do vì sao, không bao lâu trước mùa Phục Sinh năm 1889, Nouri Bey có bổn phận triệu tập Kapitan Mikhalis và bảo ông ta phải quở trách em ông Manousakas, về việc dẫn một con lừa vào nhà thờ hồi giáo như để ngạo báng. Cũng muốn xoa dịu người khách được mời, Nouri Bey gọi người đẹp của ông ta , Emine Hanoun , đến hát mừng chào đón một cách danh dự người khách : Chính đấy là tia lửa châm ngòi cho thùng thuốc nổ và tạo nên một trong những thời kỳ bạo lực dữ dội nhất trong cuộc chiến dành độc lập chống lại quân Thổ xâm lược do các nhân vật của tiểu thuyết sử thi này cầm đầu .

Καπετάν Μιχάλης - Kapitan Mikhalis - Tự Do hay Chết - La Liberté ou La Mort - Freedom or Dead , là một trong những kiệt tác của văn học Hy Lạp và đã được chuyển dịch sang hầu hết các thứ tiếng trên thế giới.

Newvietart hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết Καπετάν Μιχάλης lần đầu tiên được chuyển dịch sang Việt ngữ của Từ Vũ .

CHƯƠNG XIII


KỲ THỨ 8


Bộ mặt của Crète thật trầm trọng, quay quắt. Đảo Crète trong thực tế là một cái gì thật lâu đời quyến trộn lẫn lộn ! thiêng liêng, đắng cay, kiêu hãnh mà những người mẹ ở đây đã mang nặng đẻ đau tạo ra những người con anh hùng mà thần chết luôn luôn hoan hỉ đón nhận.

Lúc cả hai ra khỏi Candie đi vào vùng quê nơi trồng những cây olive và nho, Kosmas đi trước, trên lưng lừa, tiếp theo sau, Kostandis, đi bộ, chiếc gạy lùa cưù trên vai, trời đã gần sụp tối. Cảnh vật nhấp nhô, vàng, hoe đỏ như da cọp. Phía sau lưng, ngọn núi Ida đưúng sững, phủ đầy tuyết dưới an&h mặt trời còn sót lại, thư thái, mãnh liệt và quảng đại như các bậc tổ tiên. Phía trước, nọn núi Dicté yên bình dưới bầu trời êm ả. Khắp nơi, nhữngh cánh đồng vừa mới cầy, nơi này màu nâu sẫm, mé khác một màu đen thẳm. Đó đây những cụm olive trên cành màu bạc, một cây bách đơn độc, một thân nho cong quẹo, trơ lá với vài hạt còn sót lại trên một chùm nho héo quăn...

Kosmas nhìn, không biết chán. " Đây là Crète của ta, đấy là đất đai đã sinh ra ta, đây là mẹ..." anh tự nhủ , trong lồng ngực trái tim anh đập rộn rã.

Khi còn ở ngoại quốc anh tưởng nhớ tới Crète, một tiếng nói bật lên trong anh, nghiêm nghị, tàn nhẫn. Rồi anh cuí đầu, im lặng. "Cho tới ngày hôm nay, mày đã làm được gì? Tiếng nói hỏi anh. Mày không xấu hổ hay sao? Suốt thời gian dài đăng đẵng vừa qua mày đã chống chỏi với gió bão, niềm hăng say của mày đã biến mất bằng lời nói, mày đã coi thường sự thực để nuôi dưỡng những giấc mơ . ta không cần tới mày!". Đó là tiếng của Crète đã gào thét lên trong anh để rồi anh cúi đầu thấp xuống, câm nín.

Bây giờ thì anh đang giẫm chân lên đất nơi quê hương anh. Hai lồng phổi anh phồng lên đầy hương húng tây, húng dương. Anh chẳng còn tài nào thoát khỏi tiếng nói kia, anh phải trả lời nó. Trà lời như thế nào ? Anh đã không làm được điều gì, anh cũng chẳng có giá trị gì. Hai tay anh, hai bắp đuì anh, lồng ngực của anh chỉ là đống thịt vô tích sự. Anh đã làm nhục nhã cho cái giòng giống quả cảm, bất trị của tổ tiên anh.

Rồi bây giờ anh đang đi đâu? Đi an táng một mãnh hổ của gia đình anh rồi bắt buộc một con mãnh hổ khác phải đầu hàng. Bấy giờ anh đang ở điểm đó!

Nghĩ tới đây, Kosmas quay llại nhìn Kostandis như muốn được nghe một giọng nói người.

- Kể cho tôi nghe về ông nội, Kamitan Sifakas, Kostandis. Đi lên trước này để tôi có thể nghe rõ.

Dứt lời, anh đưa cho người chăn cưù cao lớn một điều thuốc; Kostandis đưa điếu thuốc kẹp vào vành tai mình, hỏi:

- Ông chủ ơi, Anh muốn nghe tôi kể gì nào ? . Bọn mình, những người đang sống, ông cụ, kẻ sắp qua đời. Ổng đã ăn, uống, giết bọn Thổ như giết ngéo, xin Thượng đế tha thứ cho ổng! Ông cụ đã sống một cuộc sống thực xứng đáng, còn hơn cả xứng đáng nữa, cứ tin tôi đi, chẳng cò gì phải hối tiếc gì được nữa. Khi ông ấy lên núi đến chuồng cừu, chỉ cần hai miếng là ổng đã ăn xong cả một cái khuôn phô-ma trắng đang phơi. Còn nữa, ổng liệng cây gạy của ổng để giết một con thỏ rừng rồi sai tôi: Kostandis, nướng nó đi! Tôi, tôi nướng thịt thỏ, ổng ăn ngấu nghiến không bỏ sót một miếng sương. Ổng ăn khoẻ, uống cũng khoẻ, và tôi nghe người ta đồn là trong đêm hợp cẩn ổng đã làm gãy ba cái giường. Đừng có cười ông chủ ơi, tôi kể với anh tất cả đều là sự thực mà !.

Tới đây, Kostandis ngừng lại, giở chiếc băng giữ tóc quanh đầu , lau mồ hôi trên khuôn mặt đen sạm rồi cười. Một lát sau, Kostandis hỏi Kosmas :

- Anh có biết bà cụ lấy chồng như thế nào không, bà nội anh đó ?.

- Không, kể cho tôi nghe đi, Kostandis!

- Cha mẹ của bả không chịu ông nội anh.Lúc đó, ổng nghèo, hình như vậy, trong khi họ là những người thuộc thành phần trưởng giả giầu có. Không còn gì có thể nói được nữa, ông nội anh lại sử xự một cách ngớ ngẩn nữa. Chỉ cần một tiếng được hay không là ổng nhấy vào trong bưng. Còn họ, những người thận trọng, khôn khéo, biết theo chiều gío. Tóm lại, hai bên không cùng đứng chung một phiá. Ông nội anh nhờ người mai mối tới, nhờ sự can thiệp của một vị trưởng tu sĩ ở tu viện Notre-Seigneur-Jésus-Christ ấy thế mà bên gia đình kia vẫn không chịu - Nếu đã như vậy, ông nội anh tức giận nói, mấy người sẽ xem chuyện gì sẽ xảy ra, bọn khốn kiếp!".

Một đêm nọ, ông nhẩy lên mình ngựa phi một mạch đến làng gia đình người con gái. Ông mang theo một thùng dầu lửa và một bao diêm, chiếc nhẫn đính hôn buộc ở vành khăn bao tóc trên đầu ông. Vào tới làng, ông khởi sự rưới dầu lên tất cả các nhà rồi hét lớn : " Bọn nhà quê ơi, bọn nhà quê ơi! ta sẽ đốt nhà các người !" Những cư dân trong làng nhận ra giọng nói của ông, nhào nháo nhấy khỏi giường. Gia đình cô gái cũng thức giấc, nhẩy nhỏm.

- Trời đất ơi, Kapitans Sifakas, xin đừng làm chuyện như vậy chớ !

- Trao Lénio cho ta ! ông nội anh kêu lớn.

- Anh không sợ Trời Đất hay sao ?

- Đừng lôi Trời Đất vào chuyện của ta. Hãy giao Lénio cho ta! Nhẫn đính hôn đây!

Dứt lời ông cởi chiếc chiếc khăn quấn tóc , lấy chiếc nhẫn đính hôn, nói tiếp : Lựa đi, chiếc nhẫn hay ngọn lửa?

- Trời Đất sẽ trừng phạt mày, con qủy hung ác kia , người cha cô gái lên tiếng.

- Lửa hay nhẫn nói đi ?

- Hãy nên tội nghiệp cho dân làng!

- Nhẫn hay lửa ? Ông nội anh gằn giọng.

Dân làng cũng đã bắt đầu mất kiên nhẫn. Không thể như vậy được, không thể để một người ở đâu tới muốn làm gì thì làm ở làng này được. Mọi người phải đoàn kết lại đối phó với hắn!. Nhưng ngay lúc đó vị giáo trưởng can thiệp :

- Thôi hãy nhường nhịn tên ngang ngược này các anh em ạ!

Dứt lời ông quay lại nói với cha cô gái : - Hãy quyết định đi lão già Minotis ơi, kẻ cầu hôn này cũng được lắm đấy, hãy giao con gái ông cho hắn đi!

Những vị lão trượng trong làng cũng nói thêm vào.

- Hỡi tên qủy kia ơi, tao sẽ giao con gái tao cho mày nhưng bây giờ mày hãy cút đi cho khuất mắt tao. Cha cô gái thét lớn với ông nội anh.

- Tôi muốn ông giao cô ấy cho tôi ngay bây giờ, đi tìm cô ấy đến đây cho tôi!

Vừa nguyền rủa inh ỏi người cha cô gái vừa quay đi tìm con gái mình. Rồi bà mẹ cô gái cũng bắt đầu xen vào cuộc tranh chấp bằng những lời than vãn .

Khi cô gái được dẫn đến trước mặt ông nội anh thì Ông nội anh lập tức kéo cô ta vất cô nằm ngang trên yên, quất vào đít ngựa một cú, con ngựa tung vó phóng thật nhanh để lại một đám bụi mù . Đám dân làng, vị giáo trưởng đuổi theo sau muốn đứt hơi nhưng cũng không tài nào theo kịp.

Sáng hôm sau, tất cả mọi người đến Pétroképhalo, tại đây hôn lễ được cử hành nhưng ông nội anh lớn tiếng với đám nông dân :

- Tất cả hãy cút đi ! Tuần lễ tới mới nhậu nhẹt được. Lúc đó tất cả mọi người sẽ được tiếp đãi trịnh trọng, còn bây giờ ta còn có việc phải làm...

Kostandis với tay lên vành tai, lấy điếu thuốc.

- Như thế đó, những người đàn ông phải cưới vợ như thế đó. Kostandis vừa nói vừa vuốt ve điếu thuốc rồi châm lửa hút.


Hai người đi qua một thung lũng nhỏ nằm kẹp giữa hai ngọn núi. Một giòng nước chãy trên những phiến đá trắng.

- Anh có khát không ? Kostandis hỏi.

- Không, phải nhanh lên chứ, Kostandis, chúng ta bị trễ mất rồi đấy.

- Tôi, tôi khát, đợi một chút!

Dứt lời Kostandis nằm dài bụng trên sỏi, chúi đầu vào giòng nước và tợp bằng lưỡi uống hệt như một con cọp.

"Hắn sẽ làm cạn cả suối nước", Kosmas vừa ngẫm nghĩ vừa chiêm ngưỡng anh chàng dân nuí khổng lồ đó. Kosmas ngắm nghía, hai bắp chân chắc nịch, thân hình đều đặn cái đầu với mái tóc nâu và xoăn tít đầy nét kiêu hãnh.

Phắt một cái, Kostandis đứng dạy, chùi hàm râu rồi đặt lại chiếc gạy chăn cừu của anh trên lưng.

- Chính trên tảng đá mà vừa rồi tôi áp mình vào để uống nước, Kostandis nói, mà tôi đã cắt cổ Hussein, tên Albanie, kẻ thù của người Thiên Chuá - Và tôi đã thề rằng tôi sẽ uống nước ở đây mỗi khi có dịp đi ngang qua thung lũng này. Cho dù có khát hay không, tôi vẫn uống !.

- À, chính anh, anh đã cắt cổ nó à , Kostandis, một mình anh ? Kosmas hỏi lại nhân vật mà vị giám mục vừa thuật lại chuyện , chiều hôm qua, một kỳ tích ghê gớm. Đó cũng là một trong những lý do, hình như thế, đã đưa đến cuộc thảm sát tại Candie.

- Đúng vậy, chỉ một mình, Kostandis đáp . Anh tin như thế nào ? Nó chỉ có một mình, lẽ dĩ nhiên là tôi cũng thế, cũng chỉ một mình tôi. Tôi đã đoán trước là hắn sẽ đi ngang đây, thằng chó đó. Nó châm lửa đốt làng. Một lát nữa anh sẽ được trông tận mắt khi ta đi ngang qua đó. Hắn đã giết chết bao nhiêu người. Vậy thì, tôi cũng đã thề rằng phải giết hắn. Nó phải đi ngang qua thung lũng này, tôi mai phục đợi hắn.

- Nhưng anh cắt cổ nó như thế nào ?

- Ồ, tôi cắt cổ như thế nào hả ? Tôi lôi con dao của tôi ra và cứa cổ nó. Ngay sau đó tôi trốn vào bưng.

- Anh, anh cũng đã vào bưng hả , Kostandis?

- Tôi là một người đàn ông, đúng hay không nào ? Tôi đi tìm ông già Sifakas rồi nói với ông ấy : "Hãy để đám cừu cho Haridimos chăm sóc, hắn đã già, không thể chiến đấu gì được, tôi, tôi sẽ cầm súng." - "Hãy cầm súng, ông cụ trả lời tôi, cầm lấy súng rồi giết bao nhiêu thằng Thổ như mày muốn. Hãy nên nhớ là đừng làm tao phải xấu hổ " - "Ông đừng lo chuyện đó, ông già Sifakas ơi", tôi đáp lại ông ấy rồi nói tiếp "nhưng tôi sẽ không gia nhập phe của con trai ông đâu nhé, ông phải biết điều này! Anh ấy dành hết mọi thứ mà không chừa cho ai cả. Khi có một việc hiểm nghèo là anh ấy dành lấy cho mình."
Tôi gia nhập hàng ngũ của Capétan Vlahos. Tôi đã bắn giết thoả thích như ý tôi muốn, bọn Thổ, rồi ngày chủ nhật cuối, Capétan Vlahos gọi tôi lại bảo :"Hãy quay về nhà đi Kostandis ạ ! Chiến tranh chấm dứt, vị Giám mục vừa gởi cho ta một điệp văn. Ông ấy yêu cầu mọi người bỏ súng xuống. Hãy về đi, chúc anh an bình...Capétan Kostandis!"- "Capétan Kostandis! tôi hỏi vặn lại ông ta, từ bao giờ vậy ? " - "Ái chà, ông ấy trả lời tôi, anh đã phục vụ rất chu toàn, lại còn lập được một thành tích lớn , cắt cổ Hussein, tên Albani. Ta sẽ làm cho anh một tờ chứng nhận, chứng nhận chức Capétan, để lưu lại cho đám con cháu anh." - "Ông viết gì trên tờ giấy đó?" tôi hỏi lại. - "Trên giấy ghi là anh đã chiến đấu cực kỳ dũng cảm, anh có quyền được hưởng trợ cấp sau khi Crète được giải phóng." .Sau đó Capétan Vlahos gọi người thư ký lại đưa cho ông một tờ giấy rồi ông cắm cúi viết một lúc thật lâu và trao cho tôi sau khi đã đóng mộc của ông một cách thật cẩn thận.

- Thế tờ giấy đó anh làm gì, Capétan Kostandis. Kosmas hỏi.

- Tôi xé bỏ rồi, ông chủ ơi. Đâu có phải là vì cái tờ giấy nhem nhuốc đó mà tôi chiến đấu!. Tôi, tôi chiến đấu cho lịch sử Crète !

Dứt lời, Kostandis rảo bước nhanh hơn và bắt đầu huýt gió.


__________________________

... CÒN TIẾP ...

- Mời đọc tiểu sử Nikos Kazantzaki tại: http://newvietart.com/index4.26.html.
La Serénité - Troyes, 23 giờ ngày 18.04.2010.



© Dịch giả giữ bản quyền.
. Lần đầu tiên đăng tải trên Newvietart.com ngày 09.09.2010.
. Tất cả các bản sao chép lại không ghi rõ nguồn Newvietart.com
là những bản xử dụng bất chính, vừa thiếu văn hóa vừa bất hợp pháp.

Viết bởi vietvanmoi, 10 August 2010 00:41 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

Ò ... Ó... O ... truyện ngắn của NGUYỄN VĂN HOA


















“Nói dậy mà không phải dậy” (tục ngữ Nam Bộ)
(tục ngữ Nghệ An )

“ Ò ó o”“ Ò ó o”! “ Ò ó o”! “ Ò ó o”! “ Ò ó o”! ! Tiếng gà gáy liên hồi! Đêm tĩnh mịch , không có tiếng động gì ngoài tiếng gà gáy này! Tôi bị đánh thức .Nhìn đồng hồ điện thoại thì thấy chỉ 12 giờ ( 24 giờ ) đêm!
Quái lạ! Ai lại gọi điện cho mình vào lúc này ! Mẹ tôi đã gần 100 tuổi , hay là nhà báo tin dữ!
Lo lắng quá!
Tôi tỉnh ngủ hẳn , không phải tiếng gà gáy mà là tiếng chuông điện thoại di động của tôi!
Tôi ấn vạch xanh và áp tai nghe
- Đây có phải nhà Năm Hùng không?
- Đúng đây là nhà Năm Hùng đây!
- Tao là Tư Vân đây! Đ.M mày! Mày lợi dụng lúc tao đi tù , mày dụ khị vợ tao và hai con tao ! Lưu bút của mày với vợ tao , tao đang đọc đây !Tao sẽ giết chết mày!...
Nghe những câu chửi mình , tôi tỉnh hẳn ngủ ! Không hiểu nếp tẻ gì , tôi tắt máy ! Lại thấy“ Ò ó ó”“ Ò ó ó”“ Ò ó ó”“ Ò ó ó”“ Ò ó ó”“ Ò ó ó”“ Ò ó ó”“ Ò ó ó”“ Ò ó ó”.
Tôi ấn vạch xanh và bất đắc dĩ phải nghe
-Đ.M mày! Mày lợi dùng lúc tao đi tù , mày dụ khị vợ tao và hai con tao ! Lưu bút của mày với vợ tao , tao đang đọc đây !Tao sẽ giết chết mày!...”
Tôi trả lời :
“ Ông đã hiểu lầm rồi !
- Tao không lầm !Đ.M mày! Mày lợi dùng lúc tao đi tù , mày dụ khị vợ tao và hai con tao ! Lưu bút của mày với vợ tao , tao đang đọc đây !Tao sẽ giết chết mày!...”

Và tôi tỉnh ngủ thực sự và không sao tiếp tục được giấc ngủ nữa và thức trọn đến sáng !
Tôi vắt óc xem Tư Vân là ai, sao lại gọi điện vào lúc 24 giờ mà lại giận dữ tột cùng chửi mình!
Sao mình lại ngớ ngẩn để lại “ lưu bút “ của cô gái nào đó đã có chồng có con ! Hoá ra mình để lại “vật chứng” để “ thưa ông tôi ở bụi này à”? “ Ăn vụng phải biết chùi mép” chứ!
Lờ mờ ký ức vụt hiện về cách đây 35 năm !
Tôi biệt phái vào dậy học ở Trường Xoài Hột, từ Trung Lương đi về Cai Lậy đến gần cầu Long Định thì rẽ trái (gần chùa Sắc Tứ và cũng không xa Trại rắn Đồng Tâm).
Ngày ấy tôi day Toán Thống Kê cho nhiều lớp Kế toán trưởng của các doanh nghiệp Nam Bộ.
Học sinh ra vào trường hàng chục khoá làm sao nhớ hết! Nó thành phong trào , học sinh nào ra trường đều xin lưu bút các thày !Tính tôi hay cả nể nên đều có ghi lưu bút cho học trò của mình!
Vậy vợ Tư Vân là ai?
À nhớ ra rồi!Năm 1977 dậy riêng cho lớp kế trưởng của các Doanh nghiệp làm xuất nhập khẩu Nam Bộ !
Nghề kế toán hầu hết lại là con gái ! Trong đó có cô gái lớn tuổi nhất làm lớp trưởng, mặt trái xoan , lông mày lá liễu , mắt lá dăm , da trắng mịn ,đến lớp lúc nào cũng áo dài trắng là phẳng phiu, cô đã từng là nữ sinh trường Nguyễn Đình Chiểu nhà gần chùa Vĩnh Tràng Mỹ Tho , là sinh viên trước năm 1975 từng “ xuống đường hát cho đồng bào tôi nghe”, nghe lao pháo trong lớp có người nói chồng lớp trưởng cũng là sinh viên, trước 1975 cũng vào cứ đi bộ đội giải phóng, và sau khi họ lấy nhau có 2 con thì chuyển ngành khỏi bộ đội ,hình như chồng lớp trưởng là Giám đốc nhà máy “ Môi trường xanh Nam Bộ “
Học sinh kháo nhau lọt đến tai tôi: lớp trưởng này đã có hai con gái ! Nghe nói chồng đã bị kết án tù chung thân vì “quan liêu “ để phòng kỹ thuật và phòng thị trường đưa sản phẩm không đúng như giấy chứng nhận chất lượng ra thị trường. Hậu quả gây cho hoa mầu vụ ấỷ, nông dân ở Nam Bộ mua sản phẩm của nhà máy này đều bị thất thu. Nông dân kiện nhà máy này dữ quá! Nguyên nhân do Giám đốc bị bọn chủ vựa người Hoa ở Chợ Lớn thông đồng với thương nhân Hồng Kông đã lừa đảo, nó tráo hoá chất “ giả “ cho nhà máy này!
Cái quý của nữ lớp trưởng này là dù chồng tù chung thân, nhưng học hành rất chăm chỉ, đi học rất đều và đúng gìờ, quản lý nội vụ lớp theo nội quy rất chặt chẽ, các thày không có gì phàn nàn!
Hồi tôi dậy ở Trường Xoài Hột, các Lớp tan , học sinh hay “ bày trò “ viết lưu bút!
Vì xã giao, biết hoàn cảnh éo le của cô lớp trưởng nên tôi ghi đại loại :
“ Thày chúc em và 2 con em luôn mạnh khoẻ . Riêng em có nhiều nghị lực trong cuộc sống và Thành đạt trong sự nghiệp ! và không hiểu tâm trạng thế nào lại ghi thêm 2 câu ca dao :

Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền”


Văn cảnh 2 câu ca dao này, chỉ là tâm sự của nghề dạy học như “ người đưa đò “ học sinh qua sông mà thôi! Trách sự vô ơn của nhiều học trò! Trách vu vơ mà thôi ! Thày giáo đã ăn lương do bố mẹ học sinh đóng thuế, dạy học cũng chỉ là một nghề thôi , sao còn bắt học trò nhớ ơn ! Vô lý quá!
Ngẫu nhiên hôm gặp một nữ sinh cũ là Kế toán trưởng cho một Hãng may Đài Loan( FDI) ở Sài Gòn lan man nói chuyện lớp cũ ,tôi mới biết: Về chồng của Lớp trưởng năm xưa, trong tù vị giám đốc vốn có nhân thân tốt , lại hiến kế nhiều dự án hiệu quả trong nhà tù . Hình như anh ta nhờ sự giúp đỡ của bè bạn bên ngoài nhà tù thời “ xuống đường - hát cho đồng bào tôi nghe”lập dự án để trình Giám thị xin làm giếng khoan và tháp lọc nước sạch, chất xám của anh ta và vốn liếng của bè bạn, dự án khả thi đã đựoc chấp thuận của Bộ Công An và dự án đưa vào sử dụng ,nhờ có nước sạch tù nhân giảm hẳn bệnh đưòng ruột. Cho nên anh ta từ tù chung thân lại được ân xá sớm .
Còn Nữ sinh lớp trưởng mặc cảm với chồng tù chung thân đã ra bỏ cơ quan nhà nước ra ngoài thành lập Công ty xuất khẩu cá Ba Sa Sông Tiền, nó vào loại lớn nhất Nam Bộ. Chị ta vừa có trang trại cạnh sông Tiền nuôi thả cá , vừa có nhà máy chế biến cá hiện đại nhất Nam Bộ và lại còn có Nhà máy sản xuất thức ăn cho cá. Hoạt động khép kín trong nước, chị ấy còn nhờ uy tín của bè bạn thời “ Xuống đường Hát cho đồng bào tôi nghe” để tìm đúng “ đầu ra” , đó là các hệ thống siêu thị bán lẻ thực phẩm lớn nhất nước Mỹ !
Anh chồng đựơc ân xá trở về sau 20 năm . Vợ con vẫn chờ đợi. Nhưng có lẽ mặc cảm với mình một giám đốc quốc doanh tù chung thân được ân xá, thua kém vợ đang là nữ doanh nhân được tôn vinh toàn châu Á!
Từ ngày ra tù, vợ thì suốt tuần, nào kiểm tra trang trại, khi ở nhà máy chế biến, lúc ở nhà máy sản xuất thức ăn , khi lại bay qua Hoa Kỳ hầu kiện vì bán phá giá cá ba Sa ở thị trường” trịch thượng”này ! Hội nghề cá Hoa Kỳ kiện dân mình tranh nghề với ngư dân Hoa Kỳ mà? Vợ thì vậy, còn hai con, vợ cũng cho đi du học ở Hoa Kỳ rồi!
Anh chồng càng cô đơn hơn!
Tình cờ, một hôm anh chồng khi lục tìm trong tủ, để lấy tiền đóng viện phí cho vợ, do đột ngột cấp cứu mổ ruột thừa, Định mệnh thế nào anh ta thấy đúng trang lưu bút của tôi ! Chắc là 2 câu ca dao :

Thuyền về có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền


Nó đã làm cho anh chàng ‘ cô đơn “ sau tù này tức tối lộn gan?Câu ca dao cha ông nói về quan hệ thuỷ chung đôi lứa , ở đây tôi lại vận dụng quan hệ thày trò ! Đúng là “Tình ngay lý gian” quá!
Và sau đó là cuộc điện thoại 24 giờ “ Ò ó o Ò ó o …Ò ó o …Ò ó o …Ò ó o …đó !
Lúc đầu tôi có hơi bị choáng, vì nghĩ mình quá bất hiếu để cho kẻ vô danh đụng đến danh dự Mẹ mình đã gần trăm tuổi!
Quả đất chật hẹp vô cùng , chồng của lớp trưởng kế toán xuất nhập khẩu này lại chính là người mà tôi đã thua trong trận đấu rượu giữa đường ở Xoài Hột cách đây 35 năm ! Anh ta chính là Tư Vân em chồng chị Hai Cần ! Oái ăm hai anh em đi hai con đường khác nhau , nhưng đều ngẫu nhiên đều bị đi tù sau năm 1975!
Chồng Hai Cần sau mãn kỳ học tập ở Miền Bắc đã được đưa gia đình đi định cư ở Mỹ!Thật bất ngờ Tư Vân chính là chồng Lớp trưởng lớp Kế toán xuất nhập khẩu xưa.
Tôi nhớ lại cuộc đụng rượu cách đây 35 năm !

* *

-Ê hai chả Bắc Kỳ…
Cả rừng đừa bạt ngàn , xanh mát đường kênh rạch. Tiếng từ quán cóc vọng đến tai chúng tôi. Anh Thiểm ( người Phú Thọ , sau này còn sang Campuchia làm chuyên gia ) cùng tôi dừng chân.
Cả cái vùng Xoài Hột ( Châu Thành Thành Tiền giang ) chỉ có chúng tôi là dân Bắc Kỳ ! Vì chúng tôi đựoc biệt phái vào đây để dậy học .
- Ê 2 cha Bắc Kỳ , lại đây làm mấy ly!
Tiếng gọi càng tăng âm lượng , oang oang.
Hai anh em đang đi về hướng nhà chị Sáu Bừa , chị là vợ một liệt sỹ chống Mỹ ! Vành đai diệt Mỹ ở xã Bình Đức càng xiết chặt căn cứ 2 vạn lính Mỹ ở Đồng Tâm . Chồng chị hy sinh trong trận đánh gần căn cứ 2 vạn lính Mỹ ở Đồng Tâm ( Châu Thành Tiền Giang ), trận đánh Mậu Thân cũng làm cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mất vía, vì về nghỉ với vợ ở Mỹ Tho.
Xác liệt sỹ chồng chị Sáu Bừa bị Mỹ cắt đầu bêu ở chợ Xoài Hột ! Nắng làm chiếc đầu khô quắt lại, ruồi nhặng bâu đầy ! Đêm ấy trong đám lính Sài Gòn có anh là nội tuyến đã dũng cảm “ ăn trộm “ xác chồng chị Sáu Bừa trao trả cho đơn vị du kích Xoài Hột !
Chồng chị hy sinh oanh liệt như vậy , nên dân chúng vùng Xoái hột này ai cũng biết và quý mến chị Sáu Bừa !
Hôm nay chủ nhật anh Thiểm và tôi có ý định đến thăm chị Sáu!
Chị Sáu Bừa có vườn cau hàng trăm cây, luôn giành cau đẹp ngon cho chúng tôi mỗi lần chúng tôi nghỉ Tết ra Bắc.
Anh em chúng tôi còn nhờ chị bổ cau phơi khô để mang về làm quà cho bên nội bên ngoại hoặc bà con hàng xóm ngoài Bắc!
Lúc đầu chỉ là khách hàng kẻ mua người bán ! Nhưng chị Sáu Bừa lại lấy giá gốc, chẳng tính tiền công bổ cau và phơi khô , nên anh em chúng tôi càng khó nghĩ ! Do vậy cứ ngày nghỉ chúng tôi lại đến vườn cau này chơi!
- Làm mấy ly , 2 cha Bắc Kỳ ! Này “ Bắc Kỳ ăn cá rô cây”!
Anh Thiểm bấm tay tôi và nói nhỏ :
- Có lẽ phải lại quán cóc thôi!
Hai anh em lại quán cóc. Chị Hai Cần gốc Bắc di cư 1954 vào Nam , là chủ quán , cũng không xa lạ với chúng tôi !Chồng chị Hai Cần là sỹ quan biệt kích quân đội Sài Gòn đang đi học tập cải tạo ở Miền Bắc! Chị Hai Cần kéo hai ghế bằng đoạn cây dừa già mời chúng tôi ngồi!
Định vị xong , tôi mới nhìn kỹ ngưòi có những câu mời gắt gỏng . Anh có khuôn mặt thư sinh , lông mày rậm , mắt xếch..
Trên bàn ,trước mặt anh là khẩu súng lục . Anh xoay xoay khẩu súng :
- Hôm nay lúc chen lên xe về Mỹ Tho , bọn móc túi vô phước móc đúng khẩu súng của tui,nên tui đã đánh nhừ tử cho bọn “ móc tuí “ ở bến xe Miền Tây ! Nay ngồi một mình nhậu thấy buồn quá . Muốn mời hai chả Bắc Kỳ nhậu cho vui!
Nhìn khẩu súng ,và giọng nói oang oang của anh ta , tôi thấy sờ sợ! Tôi thường phải qua bến xe Miền Tây mỗi khi đi từ Mỹ Tho lên Sài Gòn, đều sợ từ em bé bán hàng trên xe . Sờ hàng rồi mà không mua thì thật phiền toái . Bị ăn vạ ngay ! Thế mà anh chàng này còn cả gan “ dậy” cho bọn móc túi ở bến xe Miền Tây thì tôi thầm “ phục “ quá!
Nếu từ chối không uống” Tửu bất khả ép “ sợ anh ta nghi nhầm là mình “ khinh khi “ anh ta thì cũng hệ luỵ, Còn nếu “ Tửu ép bất khả từ” nếu uống , anh ta say sỉn ,mình lỡ miệng vì “ sai lệch về văn hoá vùng miền Nam Bắc” thì hậu quả cũng không lường!
Chúng tôi đang ở thế” tiến thoái lưỡng nan”, chị Hai Cần nhẹ nhàng nói :
-Đây là chú Tư Vân, em chồng tôi, bộ đội về nghỉ phép để chuyển ngành! Gia đình tôi gốc Bắc, di cư 1954 , chú Tư học Đại học trước 1975 ở Sài Gòn, “xuống đưòng Hát cho đồng bào tôi nghe ”, rồi vào vùng giải phóng , sau giải phóng về phép thì chồng tôi đã đi học tập ở Miền Bắc ! Hai anh em hai ngả , hoà bình rồi mà đã gặp nhau đâu! Mình là dân Bắc Kỳ cả ,Hai chú cứ tự nhiên cho !
Nghe chị Hai Cần giới thiệu về anh Tư Vân ,tôi mới đỡ sờ sợ!
Gọi là nhậu , nhưng cũng chỉ có mấy quả cóc ương ương đã gọt vỏ mà chị Hai Cần bầy trên đĩa!
Chị Hai Cần rót đầy ba chén rượu trắng!
Tư Vân nhìn thẳng và chạm ly với anh Thiểm và tôi:
-Vô nào !
Anh dốc ly rượu làm một hơi “ực “ và “ khà “ rất khoái trá!
Cuốn theo cái hứng khởi của Tư Vân , tôi lén nhìn anh Thiểm , anh cũng “ ực “ và rồi “ khà “ một cái !
Tôi khoá đuôi liều cũng “ ực” và cũng “ khà “ một cái.
Tư Vân đập tay xuống bàn khẩu súng rơi văng xuống đất :
-Hai chả này chơi được!
Tư Vân cúi xuống nhặt súng lên , tôi mong anh nhét nó vào bao súng , nhưng nó vẫn được để trên bàn !trước mặt Tư Vân .
Chi Hai Cần như vui lây với em chồng , quay lại với can rượu rót vào vỏ chai nước ngọt khoảng một xị ( tôi nhớ không lầm có lẽ 1 lít khoảng ba xị, 1 xị dót đựoc ba chén đầy). Tư Vân cầm xị rượu rót đầy ba chén mới!
-Hai anh thứ mấy!
Anh Thiểm nói
-Tôi tên Thiểm thứ Hai, còn chú Hùng này thứ Năm !
Tư Vân nâng ly rượu
-Nào mời anh Hai và anh Năm !
Lại “ ực” và “ khà “ một cái!
Tôi đang nhâm nhi miếng cóc ương vừa chua chua ngòn ngọt ! Tuy là người không biết uống rượu , nhưng uống rượu xong nhâm nhi cóc thấy rất thú vị , nước dãi quyện với vị cay của rượu hoà tan với vị chua ngọt của cóc!
- Uống kiểu cứ 100 % thế này , thì “ ngại “ quá! Tôi cầu cứu chị Hai Cần :
- Chị Hai nói với anh Tư giúp , tôi không biết uống rượu, anh “ tha “ cho!
Anh Thiểm cũng “ bênh “ tôi :
-Đúng là chú Năm không biết uống rượu thôi anh Tư “ tha “ cho chú ấy!
- Không được , có ba anh em uống cùng , nay anh Năm bỏ ngang , theo luật trong này anh Năm phải chịu phạt “ vào ba ra bảy ‘.
Tôi ngớ ra chưa hiểu luật phạt này!
Chị Hai Cần giải thích:
-Vào “ba “tức là vào sau thì bị phạt “ba ly” , còn nếu đang uống bỏ về trước thì phạt “bảy ly”! Theo luật này chú Năm vào sau phải uống ba ly liên tục , còn nếu ngưng uống thì phải uống thêm bảy ly nữa , cả thẩy rượu phạt là mười ly!
Tôi nhẩm nhanh , như vậy theo luật của Tư Vân trong bàn nhậu này , tôi sẽ phải uống mười ly một lúc! Với tạng thày giáo “ trói gà không chặt “ uống xong mà nôn nửa ra đây , thì mai cả trường nơi tôi dậy học sẽ ầm ĩ lên là :’Thầy Năm Hùng say ói ở ngay quán nhậu “. Nếu đi ăn tiệc ở nhà Nam Bộ say mà ói mửa lại là một nhẽ! Óí ở quán cóc,Thế thì bẽ mặt với thày trò ở trường Xoài Hột quá!
Tôi đang quay cuồng nghĩ cách đối phó với Tư Vân thì Tư Vân đưa ra một cái ly mới
-Bây giời để dễ kiểm soát, ba người chỉ uống chung một ly thôi! Thế nào anh Năm uống rượu phạt hay tiếp tục!
Kẹt quá , uống mười ly liền mồi với mấy quả cóc ương thì chịu sao nổi ! Còn tiếp tục uống thì cuộc nhậu này đến bao giờ mới kết thúc!
Tôi đã từng chứng kiến mỗi lần học sinh ra trường đều có tổ chức liên hoan chia tay với nhau và có mời các thày đến uống! Đã có tiệc , học sinh “ say sỉn “ mượn rượu” ép các thày Bắc Kỳ phải 100% những cốc rượu to đùng như cốc bia hơi! Nhất quỷ nhì ma mà ! Tôi nhớ nhất lớp Kế toán xuất nhập khẩu , cô lớp trưởng lớn tuổi có chồng tù chung thân bầy trò xúi nữ sinh trẻ mời tôi uống rượu , khiến tôi” sập hầm” . Những cô nữ sinh đẹp nói ngọt như mía lùi ,tay bưng cốc rượu đầy tràn “ Em quý nhất thày , em và với thày cưa đôi nhé!” và cứ gần chục cô đều điệp khúc “em quý nhất thày, em với thày cưa đôi nhé!”. Khoá học ấy do tôi ngây ngô tưởng thật , ngộ nhận tưởng là được học trò quý nhất trong hơn mười thày! Trận đòn do cô lớp trưởng lớn tuổi có chồng tù chung thân dan dựng làm cho tôi “đổ gục “ ngay tại bàn tiệc, Ói thốc tháo tung toé ra bàn tiệc. Học trò thì la hét sung sướng “ Đã quá!Thày Năm chết rồi!”! Thế là họ đã đánh gục được thày nghiêm khắc trên bục giảng với các công thức thống kê chỉ số giá chán ngắt “xích ma p1 q1 trên xích ma p0q0 , n từ 0 đến vô cùng”!
Học sinh nam la hét ầm trường , xúm vào khênh tôi đã mềm nhũn về phòng của tôi! Sau đó tôi bị đau đầu ngây ngấy mền mệt mất cả tuần !
Nhưng tôi tự nhủ nhờ cô lớp trưởng lớn tuổi chồng tù chung thân mà tôi hết ngộ nhận về mình!
Và đó là “ bài học” hữu hiệu nó còn làm hành trang cho tôi nhiều năm công tác ở Miền Tây Nam Bộ! Tự tôi rút ra kết luận: Dân nhậu Nam Bộ uống say sỉn nôn mửa ra ngay đám tiệc ( đám ma, cưới hỏi, giỗ Tết , thôi nôi, sinh nhật, tân gia…) là chuyện rất vui mừng của chủ nhà . Vì Chủ nhà thịnh tình lại có rượu ngon còn Thực khách thì thực bụng! Thế là đám tiệc ấy sẽ được bà con làng xóm lưu truyền và khen ngợi mãi ! Còn văn hoá uống rượu Bắc Bộ thì ngược lại , uống phải có chừng mực, ói ra bàn tiệc thì tiếng để đời , bị dư luận cho là “ Tham ăn tục uống”. Nhưng tôi là người “ ăn cơm thiên hạ” chủ yếu ở Nam Bộ , nên tôi phải “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”!
Tư Vân nâng chén rượu vòng uống mới , lại “ực “ và “ khà”! Và chén rượu đầy được Tư Vân đặt trước mặt anh hai Thiểm , anh Hai Thiểm đứng tuổi nên có bản lĩnh trong những tình huống khó , anh cầm chén rượu nói:
-Uống rượu kiểu của anh Tư Vân rất khó xử cho hai anh em chúng tôi!
Tôi uống một nửa , chú Năm một nửa được không?
Mặt đỏ ửng, Tư Vân nheo mắt , đôi mắt xếch với đôi lông mày rậm trông rất dữ tợn!
-Không được , anh Hai phải uống 100 % , và anh Năm cũng phải một mình một ly!
Chị Hai Cần lặng lẽ tủm tỉm cười xem trận đấu rượu một chọi hai chưa phân thắng bại!
Anh Thiểm tiếp lời:
-Anh Tư ạ! Chúng tôi là thày giáo, còn phải lên lớp dậy, do vậy không thể uống say được, có thể hẹn anh Tư hôm khác được không ?
-Mất hứng quá! Tư Vân cằn nhằn !
Anh Hai Thiểm uống hết chén rượu !
-Chị Hai nói thêm với anh Tư để thông cảm với hai anh em nhà giáo chúng tôi !Biết là khó “ép “ chúng tôi uống “ chìm xuồng tại bến”!
Nên chị Hai Cần quay sang Tư Vân nói:
-Thôi chú Tư ạ! Hẹn anh Hai và chú Năm lần sau vậy! Khi nào chú nghỉ phép và ổn định công tác ở nhà máy đã! Đời còn dài mà!
-Thôi , nể lời chị Hai , lần sau vậy!
Tư Vân đặt ly rượu xuống , cầm lấy khẩu súng xoay xoay…
Được lời nói đỡ của chị Hai Cần đã cứu hai anh em chúng tôi ! Chúng tôi lật đật đứng dậy, vội vã tiếp tục đi thẳng đến nhà chị Sáu Bừa!
Chúng tôi không dám quay đầu lại! Đi dưới rừng dừa xanh mát , tôi chỉ dám nhìn xuống bóng dừa xoã tóc dưới làm nước lóng lánh của dòng kênh!
Kìa rồi chị Sáu Bừa đang hái cau trong vườn!

Mãi đến tận bậy giờ tôi cũng chưa hiểu nổi” , Ai cho anh ta số điện thoại di động bị đổ chuông vào 24 giờ Ò Ó O-Ò Ó O- Ò Ó O -Ò Ó O- Ò Ó O- Ò Ó O….





Viết bởi vietvanmoi, 15 April 2010 00:26 | Chung | Góp ý (1) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

TAN ÐÀN SẺ NGHÉ truyện LÊ XUÂN QUANG




 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TAN ÐÀN SẺ NGHÉ   

 

LÊ XUÂN QUANG

 

 

 

Kết

 

Toàn đã thề thốt với Dung nhiều lần và khẳng định ''tương lai của hai người''... Thực ra lúc đầu chỉ là cách xử thế của những người đàn ông đang ở trên giường với người đàn bà khi cả hai xa người thân, nơi x ứ lạ quê người. Nhưng sau khi hai người công khai sống với nhau, trong môi trường đầy đủ vật chất với những tự do hưởng thụ... Toàn tự nhiên quên hẳn Liên. Thậm chí quên hẳn cả hình ảnh của vợ. Mỗi khi nhớ đến cái gia đình nhỏ bé, đã một thời mang lại cho anh hạnh phúc, lòng Toàn có xao xuyến chút ít... ngay sau đó bị chìm lấp trước những công việc sôi động và tình cảm tha thiết của Dung. Nhất là trong cung cách làm ăn buôn bán và cả khi chăn gối... Có thể nói hai người đến với nhau, đã hỗ trợ nhau, dìu nhau trong việc làm giầu. Nhiều lần, Dung nói ra miệng rằng hai người xứng đôi nhau trên tất cả mọi mặt.
Về phía Toàn, cũng nhận ra điều đó cho nên mặc dù rất yêu vợ, thương con, anh cũng không thể rời Dung, chấm dứt mối quan hệ ràng buộc trên cơ sở tiền bạc và nhục dục xác thịt.. Ðến khi vợ con hiện diện, nhìn hai đứa trẻ ríu rít... Toàn lại không tìm ra cớ để nói lời chia tay. Hay nói chính xác hơn, trước cái gia đình hạnh phúc này, Toàn không thể đang tay ''phá ổ đập trứng'' dứt áo ra đi.
- ''Làm thế nào bây giờ'' - câu chất vấn từ tận đáy lòng cứ vang lên làm Toàn dằn vặt, ngắc ngứ, bồn chồn không nguôi...
Mải suy nghĩ, đã đến cửa nhà Dung, Toàn tìm chỗ đậu xe, lấy lại bình tĩnh, sắp xếp lại suy nghĩ, bước lên cầu thang. Ðến cửa, chưa kịp bấm chuông, cửa đã mở, Dung trong bộ quần áo ngủ kiểu Sài gòn, đã chờ sẳn, tươi cười kéo Toàn vào lòng...

Ðã 12 giờ đêm. Cuộc vui đang tàn... bạn bè lần lượt ra về. Chỉ còn lại hai người, Hans rót thêm rượu đưa cho Liên, nói : Nào, chúng ta cạn ly. Hãy xua đi những phiền muộn, hãy dũng cảm nhìn về phía trước.
- Nhưng phía trước không lấy gì làm sáng xủa, hướng tới, liệu có ích gì ?
- Không cất bước đi lên làm sao xác định được, con đường đó có ''sáng'' hay không ? Hans nhìn vào mắt Liên, ánh mắt đắm đuối. Liên chợt hiểu ra ý nghĩa của cái nhìn... Cô cảm thấy lúng túng... Chợt chuông cửa vang lên, Hans đi ra mở. Toàn vào. Liên nhìn Toàn xa lạ, đứng dậy, nói : Cám ơn Hans ! Anh đã cho tôi một buổi tối vui vẻ. Tạm biệt, hẹn ngày gặp lại. Dứt lời, Liên đi ra cửa.
Toàn lúng túng, bắt tay chủ nhà, lật đật đi theo.
Liên lầm lũi xuống cầu thang không quay đầu lại.
Trên xe, trở về nhà, mỗi người theo đuổi riêng một ý nghĩ....

Liên tần ngần cầm quyển Hộ chiếu, đọc đi đọc lại những giòng viết... dường như sợ mình nhìn lầm, nhưng cô không lầm. Thời hạn của Visa vào Ðức chỉ còn hai tuần lễ. Cô thực sự sốt ruột. Ba tháng sống với Toàn là cuộc sống vô cùng khó khăn, phải ngụy trang dấu kín lòng mình trước sự giả tạo của chồng.Toàn xem ra vẫn tin cô chưa biết gì về quan hệ với Dung và nhửng người đàn bà khác... Anh đinh ninh 3 mẹ con Liên sẽ ra về theo đúng hạn định của Visa,. Trong thâm tâm, Toàn, thực sự không muốn chia tay với Liên, vì hai người đã có một giai đoạn sống với nhau thực sự hạnh phúc, và sự ràng buộc giữa anh và các con... Nhưng lúc gặp Dung, lúc ân ái với Dung... ý nghĩ đó tan biến ngay bởi Dung như có ma lực... khi đó, Toàn không còn chủ động ý mình được nữa, chỉ còn biết thụ động theo sự chỉ đạo của Dung.
Liên hiểu tâm trạng của Toàn.
Ngay từ khi lên máy bay sang Ðức, Liên đã có chủ ý. Ðến khi tiếp xúc, sống với Toàn, Liên càng thấy ý định của mình trở lên quyết tâm hơn... Tuy vậy, nhửng ngày sống bên Toàn cùng các con, cô lại ngần ngại... Nhiều đêm Liên bật dậy ra phòng khách ngồi suy nghĩ vẩn vơ. Cô thấy luyến tiếc cái gia đình yên ấm và thương các con cho nên chưa nỡ đi những bước quyết định. Sau hộm dự sinh nhật Otto Hans về, Liên nhờ anh tìm hiểu và kiểm chứng hộ các nguồn tin về Toàn... chỉ đến lúc này, sau khi nghe Otto Hans nói, nhất là khi Liên nhận được điện của Ban từ Việt Nam gọi sang báo tin... nghe Ban tường thuật lại lời Dung... đã cùng Dung chính thức ly hôn - Liên mới giật mình. Toàn đã đi quá xa, không còn là Toàn của cô thời quá khứ nữa...
Nhưng, điều làm cho Liên ngạc nhiên đến xững sốt, anh đối xử với cô thật tình cảm, cởi mở... nếu không ở trong cuộc, cứ tưởng anh là người chồng, người cha tốt nhất. Thế mà ai ngờ, Toàn đã quyết định bỏ lại tất cả để đi theo người đàn bà khác. Sang đây Liên mới biết Dung cùng trang lứa, cùng đi du học Ðức như Liên - ''Mà mình đâu có thua kém nó chứ''? - Cô vừa soi gương, vừa tự nhủ lòng - ''Giữ được người ở chứ ai níu được kẻ đi''! Suy nghĩ đến đây, Liên thấy lòng xục sôi. Giòng chữ số ghi trong tấm Visa cứ như đập vào mắt. Cô đứng dậy đi đi, lại lại dọc theo chiếc Ði văng. Chợt dừng đột ngột, nhìn đăm đăm qua khung cửa sổ,... rồi như bừng tỉnh, Liên mím môi thốt ra tiếng nói vẻ kiên quyết:
- Thôi ! Ðành vậy... biết làm sao - đoạn đi đến phía máy điện thoại bấm số gọi Otto Hans...

... Toàn và Dung nằm trên giường im lặng. Mỗi người theo đuổi một giòng suy nghĩ. Chợt Dung quay phắt sang, lật người nằm đè lên Toàn, đầm đìa nước mắt, hổn hển nói : Bây giờ anh tính sao ? Nghe lời anh, em đã làm xong việc cần làm... còn anh, định thế nào ?
Lời Dung làm Toàn bừng tỉnh.
Thực sự, anh cũng chẳng biết mình sẽ làm gì. Ðã mấy lần có dịp, định nói mà không thể mở miệng khi đối diện với Liên. Ðúng như người đời đã nói ''quá mù ra mưa'', Toàn thực sự đã rơi vào tấm lưới tình bền chắc, đã thử dẫy mà không sao thoát ra được. Bây giờ, khi Liên sắp phải trở về VN, Toàn lại càng lúng túng.
Ðã mấy năm sống chung với Dung, Toàn nhận ra mình không thể tách rời Dung được. Một sự so sánh cứ xuất hiện mỗi khi Toàn nghĩ tới hai người đàn bà. Toàn phải thành thực thừa nhận : Liên là người vợ đảm đang tuy hơi nệ cổ, lạnh băng, nhất là lúc vợ chồng chăn gối. Cá tính cứng, quá lý trí...
Còn Dung thì khác : Cả hai đều hấp thụ nền văn minh''Ðức'', nhưng mỗi người thể hiện một sắc thái khác nhau. Dung sôi nổi, tinh tế, nhậy bén trong làm ăn kinh tế. Ðặc biệt tình cảm... tình cảm đến yếu mềm... chính vì lẻ đó, Toàn không thể nào dứt khỏi Dung, trong khi lẽ ra, sự ràng buộc khăng khít phải là ở phía Liên. Lúc này đây, khi sự gay cấn trong việc quyết định''chọn lấy một'' đã lên đến giới hạn cuối cùng. Một quyết định lóe sáng... Toàn nhỏm dậy, nói cương quyết :
Ðược rồi, bây giờ anh về, nói với Liên. Chờ anh !
Dung giúp Toàn mặc áo khoác, đưa giầy đến tận nơi cho Toàn đi... mọi cử chỉ, hành động của nàng đều toát lên sự săn sóc ân cần, chu đáo. Trước khi Toàn bước ra khỏi nhà, nàng còn ôm hôn thắm thiết, khiến không khí tạm chia tay trở lên bịn rịn...

... Chào tạm biệt Otto Hans, gác máy điện thoại, Liên ngồi thừ ra. Cô chưa lường được cái gì sẽ diễn ra trong thời gian sắp tới. Lòng xáo trộn, bồn chồn. Chợt có tiếng mở cửa. Dung nhìn đồng hồ : Ðã 23 giờ 30. Cô ngồi nguyên trên Ði văng. Toàn đi vào, im lặng chậm chạp cởi áo, cởi giầy... Liên nhìn chăm chăm từng động tác của chồng. Nàng chủ động lên tiếng : Cơm em đã dọn sẵn, chờ anh mãi, em và các con phải ăn để chúng đi ngủ.
- Các con ngủ rồi à ?
- Ngủ đã được hơn hai tiếng - Liên nhắc khéo - anh ăn đi rồi ra đây em có chuyện cần nói. Toàn không đáp, đi vào buồng tắm, vài phút trở ra tươi tỉnh : Anh ăn với khách hàng ở cơ quan rồi, cứ để đó, lúc nữa chúng mình cùng ăn. Có chuyện gì thế ?
- Visa của mẹ con em sắp hết hạn, anh tính sao ?
- Biết làm sao được, em và con cứ trở về... mấy tháng nữa anh lại làm thủ tục mời sang.
- Anh không nghĩ tới chuyện đưa em và các con sang sống ở bên này sao ? Chả lẽ chúng ta cứ mãi trong cảnh chia ly à ?
- Anh đã nghĩ... nhưng tình hình bây giờ chưa thể làm được. Bởi vì hai miền Ðông Tây vừa hợp nhất, các cơ sở kinh tế tạm đình chỉ tất cả mọi tuyển dụng người... không có công ăn việc làm, không có bảng lương (1), không thể đón thân nhân được.,
- Như vậy đành bó tay ? - Liên gằn giọng.
Toàn không trả lời, nhìn thẳng vào mặt vợ... chợt nhận thấy thần sắc Liên kỳ lạ : Da mặt tái đi, hai mắt long lanh, bắn ra tia sáng... Liên cứ trừng trừng không chớp mắt nhìn Toàn. Không chịu được ánh mắt Liên anh vội nhìn xuống bàn. Vài phút im lặng trôi đi. Chợt tiếng Liên lại nhẹ nhàng uyển chuyển như mọi khi : Em có cách này, anh nghe thử xem có được không ? Ngừng một chút, dường như cân nhắc, lựa chọn... Toàn như bừng tỉnh ngẩng đầu nhìn vợ, Liên tiếp : Em đã hỏi... nhờ Hans... anh ấy đồng ý phương án : Nếu anh ta cưới em, em và hai con có thể đàng hoàng ở lại hợp pháp.
Toàn trơn mắt nhìn Liên trước câu nói đầy bất ngờ mang kịch tính... Liên vẫn tỉnh bơ, tiếp : Tất nhiên đây chỉ là trò chơi ''cưới giả'' thôi, ai vẫn ở nhà ấy, cốt là được ở lại. Sau hai năm lại làm thủ tục ly dị.
- Nhưng chúng mình đã ly dị đâu ? lại còn giấy tờ...
- Ðiều đó anh không lo. Chỉ cần anh ủng hộ để 3 mẹ con được ở lại, các thứ khác là chuyện vặt. Liên không hề thay đổi sắc mặt, vẫn giáng điệu nhu mì như mọi ngày, Cô nhìn Toàn chờ đợi. Phải dễ chừng vài phút trôi đi Toàn mới trở về trạng thái bình thường. Anh không ngờ vợ mình lại đi nước cờ cao đến thế. Phải, giấy tờ đối với cô chỉ là chuyện vặt... điều kỳ lạ, tại sao Liên lại có thể ngụy tạo ra các loại giấy tờ cần thiết cho việc kết hôn nhanh đến thế, trừ phi cô ấy đã chuẩn bị... nhưng không thể... từ hôm sang đến nay gần 3 tháng, Liên chẳng có biểu hiện gì... Toàn bỗng nhớ tới người anh vợ và cuộc đi du học của mình hơn 10 năm trước... ''Nhưng bây giờ, nói sao đây'' ?...
Tiếng Liên lại rủ rỉ bên tai : Otto Hans là chỗ bạn học, thân quen... anh ấy giúp thì em mới làm... chứ người khác có các tiền cũng chịu. Vả lại, đây chỉ là thủ tục hình thức, ai vẫn ở nhà nấy... Hans lại mới có bồ, đang sống với cô ta. Con Tania lớp quản lý xí nghiệp ấy mà... anh còn nhớ chứ ?
Liên ngừng lời nhìn thẳng vào mắt Toàn chờ đợi.
Toàn đang căng đầu tìm cách... chợt tiếng Liên lại vang lên : Hay là 3 mẹ con em nhập trại tỵ nạn (2)... như vậy kể cũng phiền... cho anh - Liên hạ giọng, nghe như thảng thốt...
Câu nói của Liên như thức tỉnh Toàn.
Thực tế anh không còn đường chọn lựa. Một bên Dung hối thúc. Bên kia, không tìm được lý do nói lời chia tay vợ... Vả lại cứ khi sắp mở miệng là y như rằng Liên tìm cách thoái thác khiến anh không nói lên lời. Giờ đây, tự dưng... Liên đưa ra phương án táo bạo, trong đầu Toàn bỗng nẩy ra ý kiên :''Tương kế tựu kế... đây cũng là một cách giải thoát cho cả 4 người... biết đâu''... ''Nhưng mà nếu Liên vẫn cứ cố níu giữ, thì sao ? Toàn phân vân, đoạn thở dài tự nhủ : Ðành đi bước nào hay bước ấy thôi... tuy nhiên đây là cơ hội... cứ phải cố gắng cho Liên và các con trụ lại đã... mọi chuyện khác tính sau''. Ðã tìm ra hướng giải quyết, Toàn thở phào : Em bảo Hans đến, anh muốn trực tiếp nghe ý kiến cậu ta.
Liên đứng dây ra gọi điện, lát sau trở vào nói, 15 phút nữa Hans sẽ đến...
Cuộc dàn xếp giữa 3 người diễn ra suôn sẻ. Otto Hans giúp hai bạn hết lòng...
Dạo đó đông Berlin mới sát nhập, đang trong thời gian chuyển tiếp nên mọi thứ đều đơn giản, thậm chí quá dễ dang... Hai tuần sau Bạch Liên và Otto Hans làm thủ tục kết hôn tại phòng đăng ký hộ khẩu Quận Köpenick.
...
Ðám cưới - dù là giả vờ, nhưng để ''che mắt thiên hạ'', cũng phải làm đúng quy cách, truyền thống của người Ðức - Hans và Liên đồng thanh. Ðã đến nước này, ý kiến Toàn chẳng còn cân lượng nào nữa. Hai người họ - dường như cứ kẻ tung người hứng ''lôi xềnh xệch mình đi''. Anh chỉ còn biết chạy đôn đáo, chi tiền để tổ chức đám cưới cho vợ mình với bạn. Xong việc, mấy ngàn Ðê Mác hết bay. Tuy nhiên, bù lại, an ủi là nhìn thấy chiếc tem Ðại bàng với thời hạn hai năm, dán trong cuốn hộ chiếu Việt Nam của Liên, cạnh trang bên, tờ Visa vào Ðức chỉ còn hạn đúng một ngày.
Sau hôm cưới, Toàn quyết định ở nhà cả tuần thu xếp ''công việc''. Anh gọi điện cho Dung nói rằng, dịp này không thể đến, rằng anh sẽ thực hiện kế hoạch đã bàn... Vì đã biết chuyện của hai người, Dung như mở cờ trong bụng, không nài ép hối thúc.
Liên sống những ngày này thật thoải mái vui vẻ.
Toàn nhận ra vợ mình khác hẳn mọi khi. Ðằm thắm, dịu hiền... đến nỗi Toàn tưởng như sống với người nào khác chứ không phải Liên. Khi hai vợ chồng chăn gối Toàn lại càng lạ hơn... Liên đã sống thực - có khi còn hơn cả thực - tinh thần, hành xử của người vợ yêu, chiều chồng. Thậm chí ngay cả Dung - cũng không sống được như vậy. - Toàn tự bảo, lòng bâng khuâng...
Thứ sáu - tức là ngày thứ 5 sau hôm cưới - buổi chiều, Toàn nhận điện của cô nhân viên thường trực mời đến Văn phòng Phiên dịch gấp. Xong việc về ngay, đã thấy Otto Hans ngồi chờ. Tuy anh ta là chồng hờ của vợ, Toàn cũng vẫn cảm thấy lòng mình gờn gợn... Muốn tạo không khi chan hoà... anh cười nói vời vẻ giả tạo. Liên đứng dậy ra bếp, lát sau dọn bữa. Hai đứa con trong phòng riêng đang say mê với chương trình phim hoạt hình. Ba người nâng cốc. Rượu vào, cả ba đều vui vẻ phấn chấn. Sau tuần rượu thứ 3, Otto Hann hướng vào Toàn tuyên bố : Toàn, hôm nay mình đến đón vợ con mình về.
- Hố... hố... Cậu nói vậy không sợ đến tai ''bé'' Tania ư, nó mà ''phạt'' thì rầy to !
- Mình không nói đùa ! Ðây là chứng cứ Liên là vợ hợp pháp của mình, cậu đọc lại đi. Vừa nói, Hans vừa quẳng lên bàn tập Photocoppi bản đăng ký kết hôn...- Sao ? Chúng ta đã thỏa thuận với nhau rồi kia mà... cậu... cậu... - Toàn hổn hển.
- Mình không đùa. Không tin cậu hỏi Liên đi !
- Sao, thật không Liên ?
- Tất nhiên là thật. Liên nghiêm sắc mặt trả lời - Ngừng một chút để Toàn theo kịp, thấm thía những sự việc diễn biến... được cô chuẩn bị dàn dựng công phu bấy nay. Có dễ im lặng kéo dài đến vài phút, cô mới chậm rãi tiếp : Tôi làm như vậy để cho anh khỏi phải mở miệng, khỏi ngượng... khi người chồng phóng đãng của người vợ đau khổ, người bố vô lương tâm của hai đứa trẻ đáng thương - khó nói.
Mặc dù trong thâm tâm đã nhiều lần quyết định phải nói lời chia tay với Liên. Nhưng ở trường hợp này, Toàn vẫn như thấy sét nổ trong đầu. Anh thực sự bị sốc. Thì ra Liên đã âm thầm chuẩn bị... thế mà... anh đã thua người đàn bà, bề ngoài tỏ ra yếu đuối, song bản lĩnh hơn nhiều.
- Thôi được ! Ðã đến nước này cũng chẳng còn gì mà né tránh nữa. Mình chịu thua - Toàn thành thật xác nhận - Nhưng làm gì mà Liên phải bầy vẽ nhiều trò thế ? Bây giờ chúng mình bàn đến chuyện hai con. Mình sẽ chịu trách nhiệm nuôi chúng, Liên cứ việc đi sống với chồng Liên...
- Giao nó cho anh ư ? Tương lai của chúng sẽ ra sao ? Anh lang chạ hết người này đến người khác, bỏ mặc tôi và các con... thế mà bảo giao con cho anh à ?Những lời Liên thốt ra cứ như những lằn roi quất vào lưng Toàn. Quả thật anh có lỗi, song bảo rằng anh không thương vợ con thì hoàn toàn không đúng... Bây giờ không phải lúc cãi vã, thanh minh - Toàn cướp lời Liên : Mình tuy có lỗi, nhưng vì hoàn cảnh đưa đẩy... không hoàn toàn như Liên nghĩ...
- Anh đừng biện báo cho mình nữa. Tôi đã bị anh lừa quá nhiều rồi... đã đến lúc chúng ta nhìn thẳng vào mặt nhau rồi lần lượt tính sổ ''nợ''...
- Bây giờ ý Liên thế nào? Toàn ngắt lời.
Liên xẵng gịong : Tôi sẽ cùng Otto Hans sống chung. Các con sẽ theo tôi. Hàng tháng anh chu cấp cho con theo luật lệ của nước Ðức đối với những cặp vợ chồng ly dị. Tôi xin nhắc anh một lần cuối : Hãy dừng lại. Ðừng đùa cợt với tình yêu. Hãy làm tròn bổn phận của người chồng, người cha. Nếu không đời anh sẽ chẳng ra gì... Dứt lời Liên đứng dậy, đi vào trong phòng hai con thu xếp hành trang. Otto Hans đi theo gíup sức. Lát sau Liên cùng hai con đi ra. Nguyệt Anh thấy mẹ sắp đi, ngạc nhiên hỏi : Mình đi đâu thế mẹ. Con đang xem Tom und Jery (Phim hoạt hình Mèo và Chuột)...
- Ði về nhà mình.
- Thế đây không phải là nhà mình ư - Hoàng Anh ngơ ngác hỏi.
- Không, đây không phải nhà mình con ạ. Ðây là cái ổ điếm. Ta đi, Hans giúp em mang các thứ.
Hans thực hành lệnh nhanh chóng.
Hai đứa trẻ xị mặt, miễn cưỡng theo mẹ. Toàn không kịp phản ứng chỉ đứng nhìn Liên. Hai con gần như bị Liên lôi đi. Bé Nguyệt Anh chuệnh choạng ra đến cửa nhưng vẫn quay đầu lại nhìn bố... Căn phòng vừa mấy phút trước ấm cúng, ồn ào, giờ vắng lặng. Một cảm gíac trống trải ập đến. Toàn lảo đảo ngồi xuống đi văng...
Ngoài trời tuyết bắt đầu rơi.
Qua khung cửa kính, những bông tuyết bám trên cành cây táo cổ thụ, ngày một nhiều, một chắc, khiến cành cây trĩu xuống...

...Thoáng cái đã 5 năm trôi đi...
Thời thế thay đổi, vai trò Toàn đối với cộng đồng người Việt trên đất Ðông Ðức đã khác xưa... Văn phòng Phiên dịch đóng cửa Toàn phải đi làm thuê... lại thất nghiệp. Toàn chia tay với Dung đã hơn một năm, sống trong nỗi đău mòn mỏi, khắc khoải...
- Xin lỗi ! Tôi đến hơi muộn - tiếng Liên vang lên. Tiếp theo là tiếng của một bé trai, tuy chưa nói sõi nhưng ngôn từ Việt Nam dùng thật chuẩn :
- Chắu chào ông ạ !
Nghe tiếng chào, Toàn bừng tỉnh, mở mắt nhìn : Thằng bé con lai, đẹp như thiên thần : Da trắng như trứng gà bóc. Khuôn mặt thanh tú. Sống mũi cao vừa phải, tóc đen, mắt đen... Nhất là giọng nói của nó thật tuyệt vời. Toàn nhìn thằng bé như thôi miên, anh tươi cười làm quen : Này chú nhóc, sao lại chào bác là ông ? Bác gìa đến thế ư ?
- Tóc ông trắng kià...
Thì ra thằng bé nhận diện người tiếp cận qua khuôn mặt... điều này nhất định mẹ nó dậy... tuyệt thật.
- Chắu mấy tuổi, con ai vậy ? - Toàn đã đoán ra song vẫn cứ hỏi thử.
- Chắu 5 tuổi, con mẹ Liêng (Liên), bố Hang (Hans), tên cháu là Tông (Tom)... cu cậu còn đang định huyên thuyên tiếp, Liên đã cắt ngang : Thôi đủ rồi. Tôm, để mẹ nói chuyện với bác. Thằng bé cụt hứng tiu ngỉu...
Nghe gịong nói của Liên, tuy giòng suy tưởng bị gían đoạn, nhưng quá khứ trỗi dậy... khơi gợi trong anh những kỷ niệm... cộng với ấn tượng tốt đẹp mà bé Tôm vừa mang đến... cơn nóng giận hơn một giờ trước bừng bừng, giờ dịu lại, tan biến. Toàn ngửng đầu nhìn Liên...
Bốn mắt nhìn nhau...
Trước mắt Liên không phải Toàn, mà là một con người khác ! Liên lôi từ trong ký ức một Lê Toàn... đối diện với Lê Toàn hôm nay, thật khác hẳn. Còn nếu so với hơn 5 năm trước - kể từ cái đêm mùa đông ấy - trước mắt Liên một người đàn ông : Gầy yếu, hom hem, đầu tóc bạc phơ, hai má hóp, hốc hác, lưng gù hẳn xuống, ăn vận lội thôi...
Ngay từ sau khi gọi điện, đến khi ra khỏi nhà, trên đường tới đây, Liên tự nhủ phải làm làm ''thằng cha tơi bời''... mới bõ ghét. Nhưng lúc này chỉ còn lại cảm giác thờ ơ lạnh lùng. Những gì đã chuẩn bị nàng không nhớ, tự dưng lại bật ra câu hỏi : Anh chờ tôi sốt ruột lắm phải không ? Xin lỗi. Con Hoàng Anh cảm nhẹ, tôi lo cho con nên trễ giò hẹn...
- Con nó có sao không ? Còn Nguyệt Anh thế nào, sao không cho nó đến ?
Liên chưa kịp trả lời, Toàn đã hỏi tiếp : Chúng nó học hành có được không ? Liên có tranh thủ dậy con thêm tiếng Việt chứ ? - Toàn quên khuấy... con bé nói với anh chuyện tiếng Việt, tiếng Ðức... cách đây không lâu.
Liên trố mắt nhìn Toàn...
Không chú ý đến phản ứng của nàng, Toàn tiếp : Không dậy, bọn này quên hẳn tiếng mẹ đẻ... chỉ còn nhớ rặt tiếng''Mẹ nuôi'', thì hỏng.
- Ðược rồi ! Liên xẵng giọng - y như lúc hai người còn đang yêu nhau, Toàn làm Liên phật lòng... Chẳng ngờ thái độ của Liên đã gây cho Toàn phản ứng, như đánh thức người đang mơ, cặp mắt cá chầy, đùng đục của Toàn vụt sáng. Liên rùng mình, thầm thốt lên ''Cặp mắt... chao ôi...''.
Cũng chính lúc Toàn ''thức'' thì nàng lại run sợ. Nàng đã chôn vùi quá khứ... nhưng quá khứ đau buồn vẫn hằn sâu trong tiềm thức, giờ lại bùng lên... Nàng thảng thốt, tự khỏa lấp khoảng trống trong tâm hồn mình : Ðủ rồi ! Anh chẳng nên ca tiếp bài ca cũ mèm ấy nữa. Ðời Cua - cua mắy. Ðời Cắy - cắy đào. Ở xứ này... chúng nó có tương lai của chúng... không cần bố mẹ lo hộ. Anh hãy chú ý đến tương lai của chính anh đi. Nghe lũ bạn nói, dạo này anh ''bết'' lắm phải không ?
- Thì cũng nhì nhằng. Còn cô, sao ''xổ'' ra thế ! Khiếp ! cứ như cái thùng phi, xuống nước trông thấy - Toàn đánh trống lảng.
Bất cứ người đàn bà nào bị đàn ông chê xấu đều phật lòng. Nhưng lúc này Liên lại thấy vui. Nàng nghĩ, Toàn vẫn còn quan tâm tới mình. Sợ Toàn lảng tránh, Liên vội ngắt lời ngay : Anh với Dung rã đám rồi à ? Sao vậy ?
- Chẳng sao cả. Chán nhau... không hiểu nhau thì chia tay... Thôi chúng ta nói chuyện chính đi !
- Anh đến có chuyện gì thế ?
- Mình nhớ các con nên đến thăm chúng thôi... đã sắp đến lễ giáng sinh, có chút quà cho hai con. Lúc nãy Liên hiểu lầm mình... mình cũng thật không phải... nóng giận - Toàn vừa nói vừa lôi chiếc hộp các tông để dưới gầm bàn, móc túi lấy ra hai tờ giấy 500 D.Mark đặt trước mặt Liên, tiếp : Ðây là tiền hai tháng của hai con. Quả thật mình vừa thất nghiệp... Liên cầm tạm, ra giêng sẽ đưa bù.
Cầm hai tờ giấy bạc từ tay Toàn, lòng nàng xao động. Nhớ lại thái độ trước đây hơn một giờ, Liên thấy ân hận... Quả thật sau hơn 5 năm, từ cái đêm ấy, giờ nhìn Toàn, nghe anh nói... lòng Liên tràn đầy xúc cảm, thương mến. Nàng tự hỏi : Có phải đây là lần đầu anh hành xử nhu vậy không ? Lại tự trả lời : Không, anh vẫn thế, không phải lần đầu, không giả tạo. Tuy cuộc sống của anh có buông thả, phóng túng... nhưng anh vẫn thương Liên, thương con ! ''Tại sao lúc trước mình lại không thấy, lại không có cái nhìn thoáng đãng như bây giờ... Nếu mình tỉnh táo... '' ?Toàn không hề nhận ra nỗi buồn sâu thẳm đang diển ra trong lòng Liên. Anh quay sang phía bé Tôm tươi cười, hỏi thằng bé bằng tiếng Ðức : Này Tôm, con có yêu hai chị Hoàng Anh, Nguyệt Anh không ?
- Có, rất yêu. Tom nói tiếng Ðức phải nói là quá ''Xịn'', không hề ngọng.
- Còn bố Hans, thế nào, có yêu các chị ấy không ?
- Bố Hans cũng yêu. Chợt Tôm ngước cặp mắt đen nhìn Toàn hỏi lại : Ông là ai ? sao biết tên Việt Nam của hai chị ? Có biết tên tiếng Ðức của các chị ấy không ?
- Tôm - Liên khẽ gọi con - bé Tôm nhìn mẹ - nàng nhìn Toàn, tiếp: Em phải cho Tôm về vì Hoàng Anh vẫn chưa dứt cơn sốt - Liên chuyển cách xưng hô, ngắt giòng suy nghĩ của Toàn - Hôm khác nếu muốn thăm con anh cứ đến thẳng nhà, điện cho em biết trước để em thu xếp. Ta về thôi, Tôm !
- Thằng cu này hóm thật... Em dậy nó tiếng Việt hả ? Giỏi quá. Anh thực bái phục em. Thế mà anh vẫn u mê... ngu ngốc... Lúc có em ở bên cạnh thì coi thường, không biết giữ gìn, giờ đâu còn... Hans thật có phúc. Cậu ta đã thắng anh !
- Ðừng nói thế. Duyên phận của chúng ta như vậy, sao cưỡng được định mệnh. Anh vẫn còn thời gian để làm lại. không phải lo cho hai con, hãy lo cho chính mình. Cần gì cứ điện cho em. Thôi, tạm biệt. Gịong Liên nhỏ dần, dừng lại một chút nhưng vẫn chưa chịu bước đi.
Toàn nhìn chăm chăm vào mắt Liên.
Nàng rùng mình, lắc đầu nói tiếp, lần này giọng rành rọt : Hans cũng sắp tan sở, anh ấy không thấy em và bé Tôm lại hoắng lên. Tôm chào bố Toàn đi. Liên cúi xuống bảo con.
Cu Tôm ngước mắt nhìn mẹ, nhìn Toàn, ngập ngừng... Thằng bé thông minh, lần đầu tiên gặp ''ông gìa'', nó chẳng có ấn tượng gì, thế mà mẹ lại bảo phải chào ''bố'', nó ngần ngại...
Hiểu được tâm trạng con, Liên giải thích : Bố Toàn là bố của hai chị Hoàng Anh, Nguyệt Anh. Hai chị do mẹ sinh ra. Tôm cũng do mẹ sinh ra, vậy Bố Toàn cũng là bố của con. Tôm có hai bố.
- Chào bố Toàn, con về với Bố Hans đây. Tôm lại nói tiếng Việt.
Sống mũi Toàn cay xè. Anh nắm giữ bàn tay nhỏ xíu của thằng bé không muốn rời. Tâm trạng khao khát đứa con trai tràn ngập... Anh muốn ôm, ghì, cọ hàng râu cứng queo vào má nó. Sự khao khát dường như cứ ngọ nguậy trong tim...
Liên lầm lũi dắt Tôm quay đi. Tay bé căng ra. Sợ bé đau, Toàn từ từ buông... Tôm rút mạnh tay... Toàn mất đà lao về phía trước. phải vịn vào thành ghế mới không ngã dụi.
Khi ngẩng lên, hai mẹ con Liên đã ra khỏi cửa, đang sóng bước trên đường tuyết trắng, về hướng chiếc xe du lịch sang trọng đậu bên lề đường.




Viết bởi vietvanmoi, 15 April 2010 00:20 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

NHỮNG KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ ĐÃ ĐI QUA ĐỜI TÔI... của TẠ TỴ












NHỮNG KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ
ĐÃ ĐI QUA ĐỜI TÔI:

Quách Thoại, Vũ Hoàng Chương, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền,
Lãng Nhân, Tchya, Nguyên Sa, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, .....

TẠ TỴ



Kỳ thứ 1

Lời dẫn:  Gần đến ngày 24/4/ -  nhớ 5 năm kỷ niệm ngày Tạ Tỵ " ra đi không mang va li, quần áo ướt hết, chân không đi  Ba ta.."tôi gõ một trích đoạn tự- sự -kể mà anh viết về đồng nghiệp ". Một điều tin cậy nhất, tác giả  viết rất thành thực  dầu đúng, sai- vẫn là  cảm tưởng chân tình nhất của tác giả.  Vào  thập niên 90, một  nữ đọc giả làm sách ở Hà Nội, rất yêu văn chương Tạ Tỵ -  bà Miên đã tự ý đem in một  tác phẩm  Tạ Tỵ - gây một dư luận thật ồn ào, báo chí trong nước lên án  rùm beng -  rồi các đài phát thanh, thông tấn ngoại quốc , như RFI, RFA phỏng vấn  tác giả . Tạ Tỵ trả lời  với giọng điệu lên án  gay gắt,:.."  ăn cướp  tác phẩm nhà  văn để kinh doanh, mạt sát chế độ, nơi đã in sách lậu , (kể cả viết thư  phản đối việc in tác phẩm không xin phép tác giả, gửi Bộ trưởng Thông tin  nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việtnam vv.. .." 
 Tưởng chừng sau đó, tác giả sẽ không còn  cơ hội trở về - sau khi  phu nhân (bà Nguyễn Thị Hòa qua đời ở Mỹ) - anh lại tự  mang xác thân bệnh hoạn  trở về cố hương  chữa bệnh ,  và qua đời  ở căn nhà cũ trên  đường Phan Văn Trị, quận 5, tp HCM  ngày 24/4/ 2004.  
 Với tôi, tự-sự-kể  này - một tác phẩm có "những trang văn chương bất tử " xứng đáng để lại cho gia tài văn học Việtnam trong thế kỷ XX.
( tôi  cũng  có  lời , gửi  tới trưởng nam  tác giả , hiện ở tại Mỹ -đồng thuận cho phép đăng trích đoạn " Những khuôn mặt văn nghệ đã đi qua đời tôi.."  trên web Newvietart.com  để đọc giả  toàn cầu thưởng lãm .)
 
Đương Bá Bổn
 


(...) Trong nhóm SÁNG TẠO, người nào cũng dễ thương, nhưng không may nhất phải kể Quách Thoại vừa bị lao phổi, vừa nghèo. Thơ Quách Thoại rất hay, tính tình lại hòa nhã. Một đôi lần, anh có đền thăm tôi để xem tranh.  Vì có tinh thần tiến bộ nên Quách Thoại rất thích tranh rôi. Anh thường  đứng lâu trước mỗi tấm tranh, một đôi khi anh phát biểu ý kiến về màu sắc và hình thể.  Qua nhận xét, tôi thấy Quách Thoại ngoài tài làm thơ, anh còn có một kiến thức về hội họa khá sâu sắc. Nhưng tài hoa thường mệnh yểu , Quách Thoại đã mất trong sự đau khổ về bệnh tật và túng thiếu. Anh để lại một khoảng trống trong thi đàn Việtnam từ đó. Quách Thoại dáng người tầm thước, nước da trắng do bệnh hoạn, nổi tiếng miền Trung, rất dễ mến. Đôi mắt lúc nào cũng mơ màng như đắm chìm vào dòng mộng. Tuy bệnh hoạn và túng thiếu nhưng chưa bao giờ tôi nghe thấy Quách Thoại than thở, có lẽ, giữa tôi và Quách Thoại chưa đủ độ thân để có thể tâm sự, có thể nói ra những điều thầm kín nhất, như tôi và Vũ Hoàng Chương chăng? Khi trẻ, lúc còn ở Hà Nội, khi nào túng tiền, Chương thường đến chỗ tôi làm việc, lừng lững đi vào, dáng điệu bất cần thiên hạ. Khi gặp, Chương nói bằng một câu quá quen thuộc:
-Ngươi có tiền đưa ta một chút ít tiêu.
Nó chỉ ngắn gọn như vậy thôi, chứ Chương không nài nỉ, không tả oán trước khi nói chuyện tiền.  Cũng như TCHYA khi cần tiền thường hỏi Lãng Nhân, khi làm Giám Đốc Kim Lai Ấn Quán bằng thư, Lãng Nhân lại cho người cầm tiền bõ sẵn vào bao thư mang đến tận nhà TCHYA. Chuyện trên, 100% là sự thực, vì anh Lãng Nhân thường đưa cho tôi xem thư của TCHYA, vì cả hai người đều coi tôi như em vì ít tuổi.  Trong nhóm SÁNG TẠO, nói cho đúng, tôi không thân với ai lúc đó, chỉ có gặp nhiều hay ít thôi. Người tôi thường gặp là Thanh Tâm Tuyền, sau đó Doãn Quốc Sỹ, còn Trần thanh Hiệp, Nguyễn sỹ Tế họa hoằn mới gặp, nói vài ba câu tầm phào lấy vui.
Nhưng tôi chỉ viết cho SÁNG TẠO một cách tài tử chứ không thường xuyên, hơn nữa khi tờ SÁNG TẠO mới ra đời cần có những tên tuổi đóng góp đễ gây uy tín cho tờ báo, nhưng sau khi nó đã có chỗ đứng rồi ,và nhất là có nhiều tài năng mới tiếp sức, nó không còn cần đến sự trợ lực của lớp người đi trước nữa. Đó là cái luật chung của nghề làm báo, đỡ phải trả tiền nhuận bút lại có thêm nhiều tài năng mới làm tờ báo có hướng đi hợp với trào lưu đương thời, dưới những mỹ tự, nhằm ngụy trang lòng tham của các vị chủ báo.  Bây giờ cũng vậy!.
Vào  đến miền  Nam, tôi mới quen Mặc Đỗ. Trông bề ngoài Mặc Đỗ giống như một công chức, nghĩa là dáng điệu rất mẫu mực, ăn nói từ tốn đắn đo chứ không phát ngôn bừa bãi. Nói cho đúng, Mặc Đỗ chuyên về dịch, chứ ít sáng tác. Mặc Đỗ đeo kính trắng, lúc nào mày râu cũng nhẵn nhụi, bạn rất thân của Vũ Khắc Khoan  và Nghiêm Xuân Hồng. Mặc Đỗ và Nguyễn mạnh Côn chuyên viết phần bình luận bằng Pháp văn cho Đài Phát Thanh Sàigòn, còn đọc, do nữ ca sĩ Minh Trang. Minh Trang có Tú Tài Pháp, nhưng rất phục tài viết bình luận của Mặc Đỗ và Nguyễn Mạnh Côn. Mặc Đỗ không làm báo, nhưng anh có ý cho xuất bản một tuyển tập văn chương để minh định lập trường, lấy tên ĐẤT ĐỨNG. Anh có mời tôi tham gia vào tuyển tập đó. Tôi đóng góp một truyện ngắn mang tựa đề NHỮNG ĐỨA TRẺ MẤT DẠY. Tuyển tập có chừng trên dưới  20 người viết, trong số đó có một bài thơ của Cung Trầm Tưởng . Khi Tuyển Tập in xong và phát hành, Mặc Đỗ gặp tôi ca ngợi thơ Cung trầm Tưởng hết mình. Tôi hỏi Mặc Đỗ có biết Cung Trầm Tưởng là ai không? Tại sao  lại có thơ in trong tập ĐẤT ĐỨNG? Mặc Đỗ nói, không biết ai, chỉ nghe nói Tưởng ở trong ngành Không quân thôi. Sau khi nhận được bài thơ gửi đến, đọc xong thấy hay quá, bèn cho " chạy". Anh em sau khi đọc bài thơ đều khen, cho rằng Mặc Đỗ đã có "mắt xanh".! Từ đó sự nghiệp thi ca của Cung Trầm Tưởng có tài năng và xứng đáng ngồi vào chiếc chiếu dành sẵn cho  thi nhân. Trường hợp của Nhã Ca cũng tương tự như trường hợp Cung Trầm Tưởng, nhưng người tìm ra Nhã Ca là thi sĩ Nguyên Sa, khi anh đang chủ trương tạp chí HIỆN ĐẠI.
Bước khởi đầu của tạp chí do người miền Bắc điều hành là tờ SÁNG TẠO, rồi ít năm sau tờ HIỆN ĐẠI, VĂN HỌC, VĂN, THẾ KỶ 20 nối tiếp. Nguyên Sa học và đỗ Cử Nhân Triết ở Pháp. Anh làm thơ từ hồi còn là sinh viên ở Paris. Một buổi,  Mai Thảo đưa Nguyên Sa lại thăm tôi. Lúc đó Nguyên Sa mới ở Pháp về còn trẻ lắm, người phốp pháp, cử chỉ lịch sự và còn giữ nhiều cái thói quen của Âu châu qua lời nói và dáng điệu. Vì sống ở bên Pháp lâu nên Nguyên Sa (tên thật Trần Bích Lan)  đã quen nhiều lối vẽ mới, nên khi thấy tranh của tôi treo la liệt khắp vách tường, anh không nhìn chúng với con mắt ngạc nhiên, mà còn để lộ cho tôi thấy nó chẳng  có gì khác Âu châu, tuy mới đối với Việtnam.  Tôi đã đọc thơ Nguyên Sa đăng trong SÁNG TẠO từ khi chưa gặp mặt. Thơ Nguyên Sa hay, hay lắm. Nó không quá vồ vập, níu kéo như thơ Xuân Diệu, mà cũng không trầm lặng, kiêu bạc như thơ Huy Cận. Nó đi giữa hai cái "cực" đó.  Nó vừa trẻ, vừa tha thiết, vừa lãng mạn, vừa trử tình để làm rung động tâm hồn người yêu thơ. Sau một hồi trò chuyện, trước khi ra về, Nguyên sa tặng tôi một bài thơ, tựa đề: NGA. Bài này được dùng thay thiếp báo hỉ. Bài thơ mở đầu bằng những cậu:
                                  
                                                       
Hôm nay Nga buồn như con chó ốm
                                                        Như con mèo ngái ngủ trong tay anh
                                                        Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
                                                      
Để anh giận, sao chả là nước biển !...
 
Bài thơ rất dài, Nguyên Sa đã chọn lựa từng chữ để thi ca nói hộ mình những lời tâm sự. Từ đấy, ngoài Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, lại thêm Cung Trầm Tưởng và Nguyên Sa là những nhà thơ  mới khởi đầu sự nghiệp từ miền Nam và sau này còn nhiều nữa với Trần Dạ Từ, Tạ Ký, Trụ Vũ...
Sau lần gặp gỡ thứ nhất giữa tôi và Nguyên Sa, bẵng đi một dạo, chúng tôi mới lại gặp nhau khi anh làm cho tờ báo của Bộ Quốc Gia Giáo Dục cùng với Đinh Từ Thức cây viết phiềm luận dưới bút hiệu Sức Mấy sau này. Đinh Từ Thức, một nhà giáo trông dễ thương và hiền hậu. Chúng tôi gặp nhau nhiều lần qua công việc anh nhờ tôi giúp phần chuyên môn, nhưng lúc ấy tôi không thể ngờ sau này, anh trở thành một cây phiếm luận cừ khôi, rất nổi tiếng, ngay tôi cũng ham đọc anh qua lối văn châm biếm viết rất sâu sắc dù là văn chính trị, mục đích để đả phá chế độ Nguyễn văn Thiệu. Tôi và Đinh từ Thức chỉ gặp  và quen nhau trong một giai đoạn ngắn. Cả mấy chục năm về sau, không một lần gặp lại, nhưng anh đã để lại trong tôi những cảm tình sâu đậm không hề phai lạt...
 
(Còn tiếp)
 

__________________________________________________________________________________________

(NHỮNG KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ ĐÃ ĐI QUA ĐỜI TÔI: Quách Thoại, Vũ Hoàng Chương, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền,
Lãng Nhân, Tchya, Nguyên Sa, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan, .....
- nxb Thằng Mõ, U.S.A 1990.










Viết bởi vietvanmoi, 14 April 2010 16:57 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

THẾ PHONG ...HÀO HOA LÀ LÍNH KHÔNG QUÂN...













THẾ PHONG

...HÀO HOA LÀ LÍNH KHÔNG QUÂN...


Kỳ thứ 13


Cuốn bút ký chiến tranh của Phan Nhật Nam, một đại úy Nhảy dù, ra mắt đầu tiên - nhà văn này gọi Nguyên Vũ (  tức Vũ Ngự Chiêu)   là cố vấn văn chương- và nêu tên tôi, nhà văn hiện đang phục vụ trong quân chủng Không quân, chỉ lả  một cách kiếm sống độ nhật; mà trước đó đã nhắc đến đời sống khổ cực của kiếp nhà văn, như Lê Văn Trương, hoặc nhà thơ Quách Thoại. Thời gian này, tôi thường gặp Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam, Phan Ngọc Diên (họa sĩ trình bày) , Điền Bích ( người sửa bản mô-rát) ở  nhà in 55  đường Cao Thắng, Quận 3. Nguyên Vũ in sách tại đây, và cũng là nơi hò hẹn anh em văn chương gặp gỡ. Có khi, Nguyên Vũ mới đi uống bia, hoặc nhậu nhẹt ở quán đặc sản "Quê Hương", sát nách nhà in chỉ vài căn-, và anh bắt đầu xúc tiến tái bản" Nhà văn, Tác phẩm, Cuộc Đời " (*)của tôi., in tập thơ xuôi (**) Mai Trung Tĩnh.  Không hiểu giữa đạo diễn điện ảnh Hoàng Vĩnh Lộc có chuyện gì xích mích với Văn Quang, nhà văn này hiện mang long trung tá, thay Phạm Hậu (  thi sĩ Nhất Tuấn) , làm quản đốc Đài Phát thanh Quân đội, và cũng là tác giả có nhiều tiểu thuyết in ra,  hay đăng báo,vài ba cuốn đưa lên phim nhựa .Chẳng hạn phim" Chân trời tím" , rút từ truyện Văn Quang, có một bản nhạc cùng tên rất hay của Phạm Đình Chương nổi tiếng ,được nhiều người biết tới. Nguyên Vũ lại thân với Hoàng Vĩnh Lộc, nên anh ta đứng ra bênh vực đạo diễn-tiện dịp" Nhà văn, Tác phẩm, Cuộc đời"  tái bản sắp phát hành vào cuối 1970 - Nguyên Vũ cho đăng quảng cáo( nửa trang báo tạp chí "Thời nay", chủ nhiệm : Nguyễn văn Thái - nhiều kỳ) . Đại để, nội dung quảng cáo viết rất " sốc", như "..hãy đọc " Nhà văn, Tác phẩm, Cuộc đời" của nhà  văn Thế Phong sắp ra mắt, để biết nội dung sách, và là người đã dạy Văn Quang viết văn ra sao?" Thực ra, Nguyên Vũ không hề hỏi ý kiến tôi truớc- vơi Văn Quang,  tất nhiên anh ta  tự [phải hiểu là có tôi đồng ý  hoặc đã tán thành .  Chẳng hiểu Văn Quang giận  hờn tôi không; nhưng tôi cũng không còn lui tới Đài  Quân đội, và  chương trình phát thanh" Tác giả, Tác phẩm"- mà trước kia
 
---------------------------
(* Nhà văn, Tác phẩm, Cuộc đời, ấn bản đầu tiên in ronéo ( Đại Nam văn hiến, Saigon 1960)- Năm 1964, tái bản thành sách , ruột in corps 8 ( cho đỡ  trang, phải trả nhiều tiền),ở nhà in BùiTrọng Thúc ở Phú Nhuận.  Chủ nhà  đồng ý   không phải đặt " cọc" trước, sách in ra,  đem phát hành rồi  trả dần nhiều lần . Bìa sau quảng cáo, tác phẩm này sẽ được X.H. ( Đàm Xuân Cận ) chuyển dịch anh ngữ , và Dr. Nguyễn- Trần Huân  ở Paris chuyển ngữ pháp văn.  Cuối cùng, chỉ  có bản anh ngữ  được xuất bản :" Thephong by Thephong , The Writer, the Work & The Life , bản dịch Đàm Xuân Cận, Dai Nam Publishing House, Saigon 1968, 1970. (  Hơn 40  năm sau, một mạng nổi tiếng toàn cầu  đưa lên mạng, dạng ebook : Thephong by Thephong; : The Writer, The Work & The Life, autobiography; The Phong Books ( www.amazon.com/Thephong-writer-work-life-atobiography/dp/BOOO7 JUSLA 150 K...Cached Similar...) Đó là nhà in  từng in tạp chí giai phẩm Văn Mới của Thế Nguyên, Diễm Châu, và những bìa sách cho nxb Đại Nam văn hiến . Có lời  ghi ơn muộn ông chủ nhà in, có phương danh Mr. Hựu .
(** Những bài  thơ xuôi, Mai Trung Tĩnh, Đại Ngã, Saigon 1969. Sau Đàm Xuân Cận chuyển ngữ" Prose Poems by Mai Trung Tinh ", Dai Nam Van Hien Publishing House, Saigon 1970) .
----------------- 
 

Phạm Hậu  dành cho Mai Trung Tĩnh, Thế Phong, Mai Hồng Khương phụ trách- đến nay hình như chỉ còn Mai Trung Tĩnh đứng mũi, chịu sào mà thôi.
Khi tôi đọc quảng cáo ở báo" Thới nay" xong, đại để bảo Nguyên Vũ  " ..không nên  đăng như vậy, tôi chưa nhận  một ai làm thầy văn chương ; nếu có,  không thể chỉ một người,  và tất nhiên tôi không nhận làm thầy ai cả ".  Nhưng Nguyên Vũ không nghe,  lại đăng quảng cáo lớn hơn nhiều, kể cả nhiều lần hơn.  Thôi thì cũng đành chịu vậy, chơi với bạn, nhiều khi không chỉ chịu được cái tốt; mà còn biết chịu đựng cả cái mà  mình không thích.  Nhiều lần có gặp Văn Quang ở Đài Phát thanh Quân đội, hình như chúng tôi chỉ nháy chào nhau, và tôi  c hẳng giải thích,  nếu có chăng nữa ,vì biết chỉ là thừa.  Nghĩ tới thằng bạn khi  nó còn mang lon trung úy, làm chủ  chiếc xe Vespa cũ thuộc loại" thổ tả".  đã nuôi tôi cơm, áo một thời gian dài ở  đướng Sư Vạn Hạnh,  căn nhà   lợp tôn, gác gỗ , đối diện với Bệnh viện  Nhi Đồng.  Tôi thì, viết"
Lược sử văn nghệ Việt Nam" , nó xúc tiến cho ra mắt tập truyện ngắn đầu tay" Thùy Dương Trang"- thời ấy đã lùi xa vào dĩ vãng.  Bây giờ nó nổi tiếng như cồn,  cái thằng thật xấu trai, người thì nhỏ thó,  mắt voi; thế mà lại rất nhiều" đào" , lắm vợ.  Nó đã từng là em rể Khánh Ly; nói vây thôi,  nó chung sống với  ca sĩ Ngọc Anh, không hôn thú; vậy là thằng có tài cai trị phụ nữ đẹp; giá mà nó viết một cuốn sách nói về cách xử sự với đàn bà đẹp như thế nào- chắc là thành công, bán chạy là khác!  Nó càng oai nghi lẫm liệt, có giá hơn; khi mặc quân phục đầy đủ lon, lá, tên tuổi trên nắp túi áo trái treilli, phì phèo điếu thuốc lá, ra cái" vẻ" - nhứt là khi ngậm ống vố phì phà mùi thơm thuốc 79 tỏa ra. Như Mai Trung Tĩnh nhận xét về  " sếp" :"... Văn Quang là một quản đốc Đài  quân đội, biết cách xử sự thuộc cấp hay hơn, biết điều hơn, so với Phạm Hậu-thằng này khác với  Văn Quang là"  nhớ dai , hay thù vặt ".Cả hai thằng đều giống nhau, một giuộc " lady killer", có số đào hoa, song cũng không hoàn toàn sung sướng cả đâu? Vì, nỗi khổ tâm sâu kín trong lòng thì chỉ chúng nó tự  biết mà thôi.  Phải rồi, tấm huy chương nào cũng cần có hai mặt: mặt phải ghi chiến tích hiển oai; mặt trái là nỗi niềm cay đắng một mình mình biết, một mình mình hay. Thật ý nghĩa!
Như trên kia, tôi nhắc cuốn bút ký đầu tay Phan Nhật Nam, đó là" Dấu binh lửa".  một nội dung rất sôi động viết về chiến tranh nội chiến, đã được dư luận văn chương báo chí  viết, chấp nhận  đồng loạt là hay.  Thừa thắng xông lên, Phan Nhật Nam lại cho xuất bản tiếpcuốn hai: "
Dọc đường số 1"( Đại Ngã, Saigon 1969)- cuốn này cũng gây một tiếng vang giội  ra xa như tập sách đấu tay. Tôi khó quên được, khi tác giả tả trong một  cuộc hành quân của binh chủng Nhảy dù vào một thôn, ấp. Lính Nhảy dù vẫn là một hình ảnh oai hùng trận mạc; nhưng không ít bạo lực đối xử với đồng bào trong lúc hành quân.  Nên, hình ảnh một lính Nhảy dù- có lẽ là tác giả- hành quân vào một trận địa thôn làng nào đó. Khi người lính bước vào một căn nhà, bắt gặp một thiếu phụ đang cho con bú. Vì đã biết được lính Nhảy dù từng làm kinh hãi đồng bào, thiếu phụ quá sợ, giằng miệng con ra không cho bú nữa- khép vội tà áo lại che nương long-nhưng sau đó lại vén áo lên , như muốn cho người lính Nhảy dù đối diện được thưởng ngoạn đôi nương long đẹp tuyệt trần- chắc là của gái  một con-  như để hối lộ người lính để xin tha mạng.
Phan Nhật Nam ghi lại hình ảnh ấy- với tôi , người đọc- có thể giỏ giọt nước mắt ngọt ngào thương cảm lòng nhân bản của thiếu phụ muốn bảo toàn mạng sống hai mẹ con.  "
Lửa' trong văn anh bốc nhân bản  tính ở đây, và tác giả không  được phạm vào việc cưỡng bức.
Tôi nhớ tới một nhà văn Nga- ông viết bút ký chiến tranh vào thời kỳ Nga chống Đức trong Thế chiến II- đó là Alexis Tolstoi ( xin  đừng nhầm với Leon Tolstoi) tác giả "
Écrit sur la guerre", bản  chuyển ngữ mà tôi đọc do nxb Éditions de Minuit  in năm 1949. Hình ảnh đầy nhân bản  tính trong văn chương làm cảm động nhân tình, thế thái- cũng từa tựa như Phan Nhật Nam- nên sau PNNam cho  ấn hành cuốn" Mùa hè đỏ lửa" tôi đem ý tưởng này so sánh với bút ký Alexis Tosltoi- được in giới thiệu trên bìa 4 " Mùa hè đỏ lửa' của Phan Nhật Nam.
Một buổi sáng khác, tôi đang ngồi trrong Câu lạc bộ Không quân / Bộ Tư  lệnh , tán chuyện gẫu  với bè bạn tròn buổi sáng.  Thì một phi công vận" combinaison" đen, súng  trễ ngang hông, bước vào. 
" Võ Ý đây rồi!" anh chàng lái máy bay Cessna từ Nha Trang vào,  gặp anh  là nhận được nụ cười tươi tắn, dầu đôi khi  không hẳn anh chỉ vui thôi.  Anh rủ tôi, nếu rảnh rang, thì hãy bay lên Đà Lạt chơi với anh, trưa về Nha Trang, và mai trở lại Saigon, nếu thích. Nhẩm tính bỏ một buổi sáng thứ bảy nghe Lab ở  Trường Anh ngữ- tôi ghé vào sở-  xin phép sếp Khải- tôi cảm thấy cuộc rong chơi này cũng nhiều thú vị.  Nhớ đã có một lần, tôi và anh, đã cùng bay trên chiếc Cessna, từ Nha Trang lên Pleiku- rồi ghé Đà Lạt,  rồi về Nha Trang vào chiếu tối. Anh  dụ tôi: "... đi đi ông, ông đi với tôi, để có rung cảm mới làm thơ- ra Nha Trang thăm Tần Vy luôn thể, rồi Đào Vũ Anh Hùng nữa. " Anh chàng phi công này cũng làm thơ tài tử, và tán gái thì được liệt vào hạng  thượng thừa( tôi hay nói đùa, gái  gặp  KQ, một tay phải  ôm " cánh cung" trên,  tay kia giữ chặt" vòng cung dưới"- không  thì, mất " cả hai' cũng không  biết  đâu?! "Không biết có phải KQ, tự bản thân, nó đã là thầy dạy lính tráng" không quần"  biết cách làm đẹp lóng phụ nữ rồi!
Tần Vy, một cô gái ngoài 20, người yêu cũ  Nguyễn Quốc Văn  ( em vợ tôi), chuẩn  úy Dù mới  tử trận- sau khi Văn qua đời ít lâu- tôi nhận được một lá thư gửi từ Nha Trang, qua
Hộp thư 1123  Saigon -tôi , chủ thuê bao-  trên phong bì đề tên  thật" Lương Lệ  Ý Nhi".  Cô  ta muốn biết tường tận về cái chết của Văn - và tự nhận  người yêu cũ -  cô làm thơ đăng trên các báo Saigon - qua bút danh thơ Tần Vy. Tôi đã đọc thơ Tần Vy rồi,  thuộc loại xuất sắc, và thư viết rất hay, sau  này mỗi khi ghé Nha Trang- tôi vào thăm gia đình họ Lương. 
 Đào Vũ Anh Hùng- trước khi là phi công  Phi đoàn Thần tượng 215-  anh  làm phóng viên  báo từ 1964,  có viết văn; quen, biết, thân với gia đình Tần Vy.   Võ Ý đánh trúng  nhược điểm tâm lý này, tôi dễ nhận lới mới.  Ở Nha Trang, tôi còn một tên bạn học cũ ở Hà Nội ,thời kỳ 1950 ở Ký túc xá Trường Chuyên Khoa Phan Đình Phùng, phố Hàng  Đẫy. Đó là Đoàn Hựu-  hiện chánh văn phòng  Tư lệnh không đoàn 62, và một tên nữa, Khu Đức Hùng ( một lớp khác ở  Trường Phan Đình Phùng) , hiện  Tham mưu trưởng  Tiểu khu Khánh Hòa. Ra ngoài ấy, Khu Đức Hùng thường phái một xe díp củng  tài xế đưa đến nơi tôi muốn đến-  như để củng nhau ôn lại kỷ niệm xưa, của sự sống một thới ở Hà Nội vào đầu thập niên 50.
Cất cánh từ phi trường Nha Trang, chỉ có Võ Ý lái , và tôi ngồi bên cạnh.  Lượn một vòng lấy độ cao,  nhìn xuống, dưới kia lả tượng Mẹ Bồng Con - rồi trực chỉ hướng về phía bắc _Pleiku- nơi tôi tưởng có một lần phải nhận kỷ luật tới đó.  Ấy là chuyện tôi đã kể rồi, chót dại lại ngông nghênh ,tự nhận không muốn khai thâm niên  cấp bậc trung sĩ để được thăng TSI- nên bị đại tá Võ Dinh phát Sự vụ văn thư  thuyên chuyển. lưu đày tới vùng chướng khí.

Võ Ý vừa lái vừa kể chuyện:".. hễ ông nhìn thấy núi Hàm Rồng là chúng ta đến phi trường Holloway, trưa nay ra phố, tìm anh chủ hiệu thuốc tây- còn là vị hoàng đế nối ngôi cuối cùng triều Nguyễn-  đó là Vĩnh Khuê, có bút danh thơ  Kim Tuấn."  Võ Ý và Kim Tuấn quen nhau, và tôi nghe xong cũng chỉ gật đấu lấy lệ. Võ Ý nhắc lại một kỷ niệm khác, một chuyến bay từ Nha Trang lên Đà Lạt, rồi trở về- cũng lại chỉ có tôi và Võ Ý. Tối hôm trước, Võ Ý tán gẫu với tôi, "... ông có muốn đi Đá Lạt ăn sáng với tôi, thì ông hãy theo tôi. " Tôi theo anh,  chúng tôi đi sang nhà riêng đại úy Vĩnh Quốc. Cũng là VĨNH, cùng nhánh VĨNH THỤY- vua Bảo Đại-  có thể là vị vua  chờ ngôi , chưa chừng vậy.  Họ VĨNH này đang nắm chức Liên đàon trưởng  Tác chiến Không đoàn 62- coi 3 Phi đoàn hành quân. Võ Ý cho rằng, có tôi, nhà báo quân đội Bộ Tư Lệnh; hẳn Vĩnh Quốc sẽ dễ dàng chấp thuận cho " bay" Đà Lạt- trên ấy Võ Ý còn người  vợ  nuôi con chờ chồng- trên xứ hoa đào.  Quả thực,  Sếpđồng ý cho" bay", và khi Võ Ý giới thiệu tôi, nhà báo " Lý Tưởng" muốn cùng bay theo đi công tác-  sếp liền  chửi thề:".. tao cho chú mày bay,nhưng nhà báo là cái con c... gì, quan trọng hả? " . Tôi nghe xong, thấy nực, và trả lời sếp của Võ Ý: -.. con c... mà sếp ví với nhà báo, là tôi đây chẳng  hạn;  quả là đại úy đã rất ưu ái. Thế này nhé,  trong cuộc chơi đàn ông, " vì nghề chơi cũng lắm công phu"- chẳng may khi lâm trận mạc,  chẳng may" thằng cu con"  bị đau lậu chẳng hạn ;  thế là đại úy phải lo thuốc thang ưu tiên,  có khi ưu tiên hơn lo cho" thằng bố cu con", có phải vậy không?  Do vậy, khi đại úy so sánh tôi" thằng nhà báo chẳng khác mấy thằng cu con" của đại... -  thì đại úy đã vô tình coi tôi  có một tình thân hữu rất đặc biệt rồi - ấy là chưa kể  chúng ta là Không quân-  chứ không phải" không quần" đâu , đại úy? Nghe tới đây, ông đang dương dương tự đắc quyền uy của mình, cũng bật cười, bảo Võ Ý: -Thế.. mày và ông "nhà báo con cặc" này  cùng bay thôi nhé.  Không còn thêm ai khác, nghe rõ chưa? Rồi ông đưa 200 đồng- tờ giấy bạc vẽ hình vua Quang Trung- chỉ đáng mua được 1 cái chổi- thì ông  dặn dò chàng phi công dưới quyền mua đủ thứ. Nào " poireau", xà lách, xu hào, khoai tây... nhiều nhiều thứ rau đặc sản Đà Lạt khác. Võ Ý rất vui thì phải, một khi được sếp ưu ái  việc này.  Riêng tôi, đang chuẩn bị trong đầu ván xì phé, chờ lật tẩy vị đại úy, trong một bút ký sẽ viết về Không đoàn 62 và  vị Liên đoàn trưởng tác chiến.  bề ngoài, đểu cáng ở chỗ, vẫn thơn thớt nói, cười, lòng dạ xấu xa hơn muôn vật, như Kinh Thánh đã chỉ ra ý nghĩ của tôi,  đối với ông Vĩnh Quốc khi ấy. Chúng tôi đáp xuống  phi trường quân sự Cam Ly-xe  của Trạm đưa chúng tôi về thẳng t iệm  Mékong Đà Lạt ăn sáng.  Xong,  Võ Ý về thăm vợ- nữ ca sĩ Thùy Hương, một thời nổi danh được in lên bìa báo" Văn nghệ Tiền phong" . Còn tôi, ghé  thăm ông bà ngoại. và hẹn nhau buồi chiều, đúng 13 giờ, phải có mặt tại Nhà hàng Mékong, qua cà phê Tùng làm một ly đen hữu nghị ,rồi cùng  đi chợ Đà Lạt mua rau- xong  trực chỉ bay về Nha Trang. Hai chúng tôi vào Chợ mới Đà Lạt mua rau, hoa, quả-  bỗng,  Võ Ý đưa ngón tay lên đếm những thứ rau mà đại úy sếp chỉ thị  mua- phải mua  cho đủ- " ..thôi chết cha rồi, Võ Ý thảng thốt kêu-  còn thiếu" poireau", khá mắc- anh hỏi, sao tiếng việt không có " chữ này" à?  phải mượn tiếng tây? . Trả lời, "cà phê" tiếng pháp" café "- Tây đem  giống sang trồng;  " xà bông" hay Bắc kỳ gọi " xà phòng", tây là" savon"; còn "poireau"  ta không có ,mượn chữ luôn. " Xạo, cha nội" Võ Ý nhắc" tỏi tây thì  sếp không nói, bèn ra cái  điều" poreau,  poirec" .  Tôi đáp: -Đúng vậy, sếp xài sang tiếng Phú lãng sa  , nhưng giả dụ sếp bảo" faire la poireau"  thì lại khác ạ! -..khác sao? nói nghe đi. -.. khác là ông phi công đi mua" poireau"; còn tôi phải" faire la poireau" ông phi công. - .. thế  nghĩa tiếng việt là cái" đếch" gì cha nội? - đùa chút chơi"   , " đợi " ấy mà! -.. sao ông hay chơi chữ thế? này, ông còn  tiền thì đưa đây 200 nữa mua cho đủ. Thiếu " tỏi tây" bị ' ta hành", lần sau xin " bay" khó lắm , cha?!  Đưa tiền cho anh, và tôi nói đùa,  rồi sẽ được báo" Tiền tuyến"  trả nhuận bút gấp 10 lần- khi đăng bài phóng sự này đấy!. Võ Ý chưa biết tâm đụa xấu xa hơn muôn loài vật của tôi ,  đã  dự tính  từ hai bữa rồi" một phóng sự bút ký về Không đoàn 62."   Về Saigon, hai ngày sau,  bài" bút ký" Nha Trang, dưới mắt tôi.." kéo dài 8 cột suốt trang 2 nhật báo Tiền Tuyến,- nơi đây có một sếp sai phái một phi công lái Cessna lên Đà Lạt mua rau, mà tiền lại đưa không đủ. Chỉ là một đoạn nhỏ trong bài bút ký-nhưng tâm địa sỏ lá, ba que, là tôi đấy-  không nói ra việc Võ Ý xin" bay",  viết  như kiểu ,  phi công này được đặc ân " bay công","việc tư"-  lên Đà Lạt, đi chợ , chỉ để mua rau  tươi cho phu nhân ,sếp Liên đoàn trưởng tác chiến...   Phan Lạc Phúc, tự ký giả Lô Răng, chủ bút báo,  không gạch một chữ, một dấu phẩy, chấm-  làm tít 8 cột- tất nhiên đập vào mắt đọc giả là cái chắc, và tất nhiên khi báo ra rồi-" ông hạ sĩ nhất"  Thanh Chương- có bổn phận đọc hết các báo,  rồi gạch bút xanh, xanh, đỏ, đỏ- lưu ý Tư lệnh KQ. Khi sấp báo được trả về, tờ Tiền tuyến, nơi trang 2,  bài" Nha Trang..." , có bút phê ngoài lề của Sao".. cái gì đây?" Tất nhiên, Tham mưu trưởng KQ, đại tá Võ Xuân Lành phải làm việc này cho rõ.   Kết quả,  Đào Vũ Anh Hùng cho biết," đại úy sếp" sửa soạn lên đường du học, bị hoãn lại; rồi nhận lệnh" đi làm lớn hơn nơi vùng sơn  lam chướng khí'  Pleiku: chỉ huy trưởng một Phi đoàn trực thăng. Hậu quả việc này, chỉ vì" thằng nhà báo , hệt  cu con  của sếp" , tâm địa đểu giả,  thay  đen, đổi trắng, qua  một cách giết người thượng sách, bằng chữ viết- như xưa kia thầy Tử Lộ đệ tử, chất vấn  thấy Khổng Tử' chữ và nghĩa'. Còn  cách trả thù  dung tục của tôi thật hèn mạt, vô tình  hại sự nghiệp võ biền của anh.   Tôi rất ân hận về chuyện này,  mãi sau gặp lại , trung tá  Chỉ huy trưởng Không đoàn  Tác chiến  Sư đoàn VI KQ ở Pleiku-  chính anh láii máy bay trực thăng đưa tôi từ Nha Trang về Saigon- tôi vơ vẩn nghĩ-  "tôi là anh ,ở giữa rừng, thì hãy  ném  thằng nhà báo' mất dạy" xuống rừng , âu cũng đáng đới! Võ Ý quay sang, hỏi: -Ông lại nghĩ tới chuyện xưa , phải không?  chuyện  đại úy Quốc ? Sao chàng phi công này đóan đúng thế,  anh bảo tôi ".. trời bắt đầu mưa,  Cessna không đèn, đóm- ông phải giở bản đồ xem chúng ta có bay chệch hướng, lạc sang ranh giới Campuchia, nó bắn bỏ mẹ." Đó là thời kỳ vua Shianouk trị vì, ngài rất ghét Việtnam ( miền Nam), sáng thức giấc, chưa kịp rửa mặt, d96i mắt hấp háy nhìn   thân thiện   về hướng Bắc  mà thôi . Võ Ý chỉ tôi hàng dọc màu đỏ ngoằn ngoèo , đó là ranh giới.." ta phải bay sát về bên trái là ranh giới đất nhà?.   Chúng tôi xuống phit trường Cam Ly an toàn, và anh lại về thăm' cô ca sĩ vợ"- còn tôi về thăm gia đình bố mẹ vợ.  Lại hẹn nhau 13 giờ tại nhà hàng Mékong và sau đó bay về Nha Trang. Ở Nha Trang, buổi tối thời kỳ ấy, tối tối chúng tôi đến quán" Cà phê Trang."Nơi đây, cô chủ tươi mát ,làn da trắng có thể vỗ bì bạch, nếu cô cho phép - ăn nói có duyên như mật, và nơi  đây cũng có nhiều sĩ qua, đủ quân, binh chủng đến uống cà phê nghe nhạc thí ít ,  mà tán" phó mát" cô chủ thì nhiều. Vừa bước vào quán, gặp ngay chàng Thần Hổ Trương Đăng Lượng còn sót lại -  chỉ khiêm nhường mang lon đại úy- đàn em có  vị đã là Tư lệnh Không đoàn.  Trong 13 Thần Hổ , số một  Huỳnh hữu Bạc đã ra đi" không mang va li, quần áo ướt hết, chân không đi Ba ta..", nên Câu lạc bộ KQ lớn ngay ngoài công  Phi hùng mang tên  chàng phi công t hượng thừa tài năng. Tính ngang ngược của Lượng cũng vào loại Thần Hổ  thượng thừa ,. anh oang oang kể : -...chiều nay tao đang ngồi trên'" terrasse" Cư xá  Sĩ quan- cổng vào phi trường - mày có nhớ lòng đường thấp hơn " terrasse' chứ gì?  Chiếc díp Sếp lớn, Tư lệnh Không đoàn- người  thì lùn lịt, lon lá thì xum xuê, hoa lá cành - nhìn thấy tao, ổng nói vọng lên , hẹn tối nay phải  đến  tư thất xoa mạt chược- vì có Tướng Râu Kẽm (*)ra. Tao đang nằm trên xích đu , hai tay cầm  báo đọc,  không thể rời bỏ;  bèn lấy chân ngoắc ngoắc, như  trả lời Ổng, "..tao và thằng CỬ( **)  sẽ  có mặt.  Tao thấy thương Sếp lớn lái xe  chùi chũi đi, không mấy hài lòng.  Cuối cùng, tao không đến xoa, lại hối hận ban chiều, tại sao không bỏ tờ báo xuống, mà lại đưa ' chân" lên" dua" (***) thay cho tay. " Sếp lớn giận thì bỏ mẹ đời. "
-------
(* sước danh khác gọi Tướng KQ Nguyễn cao Kỳ.
( **  Phi công  khu trục Nguyễn văn Cử (con nhà  cách mạng  Nguyễn Văn  Lực) , từng thả bom bắn phá Dinh Độc  Lập năm 1962, bay sang Phnom Penh tị nạn chính trị. bạn thân Thần Hổ Trương Đăng Lượng.
(*** từ chử "bonjour".
---------------------------------------

Quay sang tôi, anh hỏi: - Theo nhà báo, vậy thì tao có sao không? Tôi bèn " hù': -... thế là mày đi vào cửa' tử" rồi! Mày khinh  Sếp ra mặt, vậy thì Sếp dễ gì để cho mảy yên thân.  Có  ai dám  lấy" chân dua"  Sếp bao giờ đâu? Ai dám?  Nhưng Thần Hổ ạ, mày cứ lên trình diện Ổng, thưa với Ổng thật cung kính nhé.  Không được tỏ ra một cử chỉ nào xấc sược, theo như mày đã kể cho tao nghe hồi  nào- đến ngay trước mặt Tư lệnh KQ, mày thưa rằng Ổng  Sáu Nha Trang  đã đề nghi cho mày lên lon ?- Không bao giờ, thưa Tướng, không bao giờ trí nhớ tôi xóa mờ hình ảnh một thằng đại úy , người  đẫy đà, chỉ tôi lùn - bị vợ cầm chổi chà rượt đuổi xung quanh nhà  - cái nhà ở dẫy mà  Lưu Kim Cương ở bây giờ đó, thưa Tướng.  Thế rồi Tướng xài xể tao" sao dám gọi Sép lớn Không đoàn bằng thằng?  Tao thưa lại,  dầu nó có là Đại tướng đi nữa, nó vẫn  là khóa đàn em, và bị vợ rượt đuổi quanh nhà. ... Lượng  lắc đầu, trả lời: -...tao không dám đâu?  Chắc chắn Sếp lớn hận tao, mày ạ. Tôi bèn đưa ra một câu ngạn ngữ: -...thương nhau như thể tay chân, khác gì anh em ruột thịt một nhà. Xưa nay thiên hạ chào nhau bằng tay là thói thường tình. Còn tại sao mày lại không chào bằng tay, lại bằng chân? Mày phải trình bày sao cho Ổng hiểu, mày đang ngồi trên terasse cao hơn mặt đường, hai tay cầm báo đọc, rồi nói vọng xuống đường-. nên  phải  dùng" chân" thay" tay"- tuyệt nhiên không có một ẩn ý gì- ngoài sự biểu hiện  sự kính mến- có khác, chỉ  bày tỏ ,một cử chỉ hơi khác thường mà thôi. Tôi nghĩ nói đùa cho Lượng vui -  không ngờ khi lên trình diện, anh thưa thật với tư lệnh Không đoàn 62 như vậy.  -.. vậy hậu quả? tôi hỏi Lượng. - ...tao và Cử đều phải đi Pleiku, chứ sao? Lượng cật vấn tôi sao biết chuyện này- nghĩ đến Thần Hổ Lượng-  hình như có lần một đại diện KQ Pháp sang Việtnam điều đình để anh sang Do Thái, làm huấn luyện viên loại  Mirage của Pháp- nhưng anh không đi,  ở lại quê nhà, âu yếm  ": ôm" không đoàn" ghẻ"  vào lòng , sau  phải thuyên chuyển ra Không đoàn 41 ở Đà Nẵng- lên tận đỉnh núi Sơn Trà, sống với khỉ. (*). Anh đem theo cả vợ con ra ngoài ấy, và trong một chuyến hàng không Air Vietnam, từ Đà Nẵng về Saigon- vợ anh giã từ chồng lần cuối. Máy bay rớt dọc đường bay.  Anh như điên dại, tôi gặp lại anh, đạp chiếc xe đạp trên ngã tư Hai bà Trưng &Trần Cao Vân. Người đờ đẫn, mắt lờ đờ nhìn vào cõi xa xăm- và hỉnh ảnh đêm nào ở quán cà phê Trang lại sống quay cuồng trong trí nhớ tôi,  cả câu nói đùa với cô chủ quán , khi cô hỏi Lượng:" .. quà tặng của em ...đâu? / tôi trả lời thay:"..  quà tặng em ư..  CÁI của  ANH  , em GIẤU mất rồi!" Chàng phi công  tài hoa có đời sống đầy bất hạnh, biết yêu đời mình, gia đình mình, tổ quốc mình- yêu KHÔNG GIAN- TỔ QUỐC- , huy hiệu quân chủng Không quân- bây giờ  bốn chữ  RÁCH vương vãi, văng vẳng TỔ QUỐC- KHÔNG GÌ ĂN hoặc TỔ QUỐC KHÔNG (ĂN )GIAN - bây giờ anh ở phương trời đơn độc nào?  có Còn hay đã mất?!
-----------------------------------
(* Núi Sơn Trà ở Đà nẵng nằm trên một ngọn  núi cao- Mỹ  quen gọi  " Monkey Mountain", đường lên trại quanh co, và khách được đoàn khỉ vô số chừng, nhảy nhót, kêu, mừng, nhảy mú  ngay hai bên dọc đường.
---------------------------------------------------------
  Một lý do thầm kín nữa nhớ về Đà Lạt-  tôi giấu hết mọi người- kể cả vợ, con- mà Võ Ý cũng không thể hay biết. Cứ lần nào anh rủ tôi cùng bay lên Đà Lạt, tôi tìm mọi cách đến  nơi ấy. Hiển nhiên là không thể quên kỷ niệm đám cưới chúng tôi ở đây- thì đã đành rồi; nhưng không phải chỉ có thế. Đến Đà Lạt một mình, tôi tự chiều ý cá nhân mình, chẳng hạn một mình ăn cơm tây một bữa cho ngon, lại không mấy đắt- tôi một mình lang thang sang đường Hoàng Diệu, số nhà 2..., quán Ba Cao - ông này nấu cơn tây thật tuyệt vời ở xứ hoa đào này.  Không phải ông chủ nổi tiếng từng làm  đầu bếp của  Đô đốc Jean Decoux , Toàn quyền Đông Dương xưa.  Món bi-tết chiên của ông làm, tôi thưởng thức không để lại một chút nước " sốt" trên đĩa.  Sau đó, tôi lang thang đến các quán cà phê, này cũng tới quán kia ,  "Café Tùng",  là nơi quen thuộc  bậc nhất - nơi có tấm tranh Vị Ý vẽ một anh chàng nghệ sĩ đánh đàn guitar, màu vàng đất-  mầu anh thường sử dụng, toát lên cao độ nghệ sĩ tính của bức tranh sơn dầu.  Chính bức tranh ấy- tôi mang nó  từ Saigon lên Đà Lạt bằng xe đò Minh Trung, rồi giao lại chủ quán Tùng.  Hình như họa sĩ Vị Ý đã nhận tiền từ trước- lúc chàng nghệ sĩ lang thang tới đây, vẽ tranh, triển lãm vào năm 1962 ở Hội trường ( lầu 3) chợ mới Đà Lạt, cùng một họa sĩ trẻ khác, gốc người Hoa- họa sĩ Lâm Kim. Trong" băng" này có cả họa sĩ T. Quang, anh chàng  thuê một phòng làm nơi vẽ tranh, kẻ biển quảng cáo ở  quanh  Khu hòa Bình. Nguyên lính Hải quân, đeo kính cận dày cộm,  nói thì gi3i hơn là có tài vẽ tranh.  Chẳng biết có phải vì mê tranh quên vợ, - cũng hay lui tới nơi đây, vả được lòng vợ họa sĩ T.Q.- tơ vương giăng mắc, nếu màu vàng còn tượng trưng cho' bội phản"; thì T. Quang bắt đầu ghét đóa hoa quỳ dại màu vàng tuyệt vời, trải khắp các lối đi bên bờ đường Đà Lạt.
Thời kỳ này, Vị Ývẽ chân dung " ca sĩ mới ra lò" Khánh Ly-  mỗi sáng" cô ca sĩ tập sự" đến quán Nam Sơn ( có anh Cảnh  sát dã chiến" chồng"  làm cận vệ), gọi" bồi" mang 2 mẩu bánh mì nướng, miếng bơ" frais"  một ly cà phê đen. và một hũ đường.  Và hình như chỉ tốn đâu có" sáu đồng" thì phải! Bức tranh của Vị Ý vẽ Khánh Ly, mặc chiếc váy màu thiên thanh, đang ngồi ngoẹo đâu ôm  đâu gối, một chân ghếch ra, xõa mái tóc dài, chân trái - họa sĩ để cụt, không vẽ bàn chân
( tôi dùng bức này làm bìa   tập truyện  ngắn " Thủy và T6" . nxb Thanh niên  sẽ  tái bản ). Cô nàng không có sắc đẹp" nghiêng nước" , tuy nhiên da bánh mật hoặc" da Bồ quân, như Nguyễn Tuân   viết tục  "  cởi qu...  không kịp", cộng   vẻ" man rợ ' núi rừng Đà Lạt" , mắt sắc như dao cau, miệng líu lo, giọng hát khàn khàn không giống ai, đêm đêm văng vẳng ở Night Club ở Dalat Hôtel; hoặc  Tulipe ,với chàng cận vệ  tên Minh- nếu tôi không nhớ lầm.  
Thời kỳ nàng chưa nổi tiêng, tiếng ca chưa man dại, hòa lẫn âm thanh ma quái, lạnh lùng mà quyến dụ của mụ phù thủy giỏ vào đêm sương mù lạnh giá Đà Lạt, đã tuyệt vời rồi!
Tôi còn nhớ, đại để, khi Khánh Ly xem bức tranh Vị Ý vẽ,  nàng  nàng xuýt xoa khen- nhưng cả nàng và họa sĩ đều không  thể giữ được bức tranh kia- mà  chủ mua nó, một giáo sư người Pháp ở đường Hoàng Diệu đã treo ở phòng khách trong một biệt thự  hai tầng năm trên triền đồi, mang số nhà 3.... Tôi tiếc rẻ,  đề nghị- hay  chúng ta chụp một tấm ảnh có ba người: Vị Ý, khánh Ly( qua tranh)  và tôi- để gọi là một kỷ niệm ở một góc chân trời đáng nhớ!
Hai bên đường lên chợ, từ rạp Ngọc Lan tới Công trường Hòa Bình, hoa anh đào nở rộ một mầu hồng phơn phớt, vá dưới kia- một dãy ki- ốt nối liền nhau. Nào hiệu kem, hiệu ảnh Harvest của nhiếp ảnh gia nối danh Nguyễn Hoàng Khôi- anh chàng này chụp cho tôi một chân dung- phóng ra , nhìn mặt tác giả lớn hơn ngoài đời-  anh chàng rất mê văn Duyên Anh, và được nhà văn coi là bạn.  Nguyễn Hòang Khôi cho đó là một  niềm tự hào, một điều sung sướng hiếm có!Sau  sang Pháp, không biết  Khôi có gặp Duyên Anh không? và tôi không quên Khôi tặng tấm hình  phóng ra , cỡ 40 x5- hiện tôi còn giữ, và kèm 20 đô la Mỹ để  tôi uống cà phê dần dần.
 
 Cạnh tiệm" Người- Ảnh", Khôi  đặt tên việt như vậy, là  quán cà phê M.P.- nơi đây đã mở đầu cho tôi một đêm dài tình ái, kỷ niệm chung chăn, gối nhục cảm với bà  chủ  quán.
Lần đầu, tôi vào quán như  một khách bộ hành phiêu lãng- ngoài trời lạnh- tôi chỉ khoác ngoài một" jacket" Không quân - vừa ấm lòng, vừa đỡ bị cảnh sát hỏi giấy tờ phiền hà, - nhìn vào áo  mặc ngoài của KQ-  biết  là lính chiến thời đại rồi. Tôi để ý, khi cô con gái, dộ khoảng 15 tuổi,  bưng cà phê ra-  đem theo gói thuốc Lucky- ngay hàng chữ Lucky Strike , có nghĩa" tìm may mắn"- phải-  tôi đã chịu nhiều bất hạnh, nên đi tìm may mắn đây. Mẹ cô bé, một thiếu phụ - trên dưới bốn mươi, không gọi  là đẹp, ăn nói mặn mà; đã  bắt mắt khách đa tình. Bà rất tự nhiên ,ra ngồi bên cạnh tôi, ở một bàn rất gần kề, khi tôi đang nhấm nháp cà phê,  và khách  lại rất vắng vẻ, chẳng có ai ngoài tôi. Như vậy, quán này không thuộc  loại đông khách, tình trạng buôn bán như thế này chưa chắc đủ sở hụi- nào tiền thuê quán, ăn, uống, sinh hoạt bắt buộc phải có hàng ngày. Bà hỏi chuyện về tôi, nào tôi làm nghề gì, lên Đà lạt chơi hay có chuyện gì? Chúng tôi trao đổi với nhau ngay từ buổi đầu rất tâm đầu ý hợp.  Tôi không khai  nhà văn, điều này đối với người bình thường như bà,  hẳn không là điều quan tâm.
Tôi bèn " phịa" , là chủ một  nhà in,- tôi lấy ngay địa chỉ nhà in Bùi Trọng Thúc (chủ là Mr. Hựu) ở 150 Võ Tánh, Phú Nhuận- một nhà in quen thuộc- chủ là ông Hựu- như tôi đã nói ở trên-  một người rất có lòng với văn chương. đã từng cho tôi in sách trước,  phát hành xong, trả tiền sau một cách nhỏ giọt.  Cũng là nơi  mà nhà văn Thế Nguyên  in  tạp chí" Văn Mới"- ban biên tập có  Diễm Châu( Phạm văn Rao), họa sĩ Phạm kim Khải,  và Cao Mỵ Nhân- Tạp chí " Văn Mới" ,một loại" giai phẩm" không có giấy phép chính thức đăng trong Công báo,  ra từng số ,  đưa kiểm duyệt trước. Và Mr. Hựu cũng cho in trước, trả tiền sau vậy.
Bả chủ quán M.P. nghe đến việc tôi có nhà in. lại bị vợ bỏ, không ai trông nom ; lcòn  bận việc quân ngũ- bà thương hại tôi ra mặt, và muốn đưa bàn tay nội trợ vào cuộc đời tôi ngay từ phút này.  Ba than van  tình trạng gia đình- bà là vợ nhỏ" thứ mấy"  một ông  Tướng, nay ông chẳng còn  mấy đoái hoài đến bông hoa đã nở  cánh cuối cùng.  Người ta, phải hiểu nói ông Tướng,  còn vợ cái, con cột- chỉ thích thưởng thức đóa hoa mới nở, nên bây giờ bà cảm thấy thương hại người chồng trước đã qua đời ( bà chỉ tay lên bàn thờ nhỏ, trên bát hương, tấm ảnh người ấy được lồng trong khung kính treo ).
Bây giờ, bà đã chuyển vị trí chỗ ngồi,  sang bàn tôi; ngồi đối diện tay đôi tâm sự.   Qua câu chuyện kể, bà  cũng thuộc loại sừng sỏ trong trường đời cũng như trường tình. Và bà coi tôi như người bạn mới rất đáng tin cậy- có thể là cái "phao" mới đi vào cuộc đời bà, nơi nương tựa lẫn nhau trong cơn sóng gió trước mắt.  Cảnh buôn bán ế ẩm thế này, bà sẽ phải bán miếng đất. theo như bà kể, ở  trên Du Sinh, rồi tìm cơ ngơi khác sống; như về Saigon với" ai" chẳng hạn.  Tôi nhìn thấy mồi câu của tôi đã đước' con-cá-đàn-bà-chủ-quán" bắt mồi, nên tôi hỏi- xưa bà từng là vợ Tướng; nay có người là lính thường yêu thương bà; liệu bà có bị mặc cảm tự ty không?  Bà cười rất tình tứ, lắc đầu quầy quậy- rằng- một anh lín

Viết bởi vietvanmoi, 14 April 2010 16:54 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

HOÀI THANH Người Bạn Tri Âm Của Thơ Mới của HUYỀN VIÊM








Kỷ niệm lần thứ 28
ngày nhà văn HOÀI THANH từ trần (14.3.1982 – 14.3.2010)

HOÀI THANH
Người Bạn Tri Âm Của Thơ Mới

Hoài Thanh (1) là một trong số không nhiều những nhà phê bình văn học xuất hiện rất sớm ở nước ta, để lại dấu ấn khó phai mờ trong buổi đầu xây dựng nền văn học Việt Nam.

Một tác phẩm để đời của ông là cuốn “Thi nhân Việt Nam” (2) tập hợp 46 nhà thơ mà nhiều người cho là một quyển phê bình. Nhưng tác giả của nó rất sợ hai chữ này. Ông viết : ”Quyển sách này ra đời, cái điều tôi ngại nhất là sẽ mang tên nhà phê bình. Hai chữ phê bình sao nghe nó khó chịu quá ! Nó khệnh khạng như một ông giáo gàn. Bình thì cũng còn được. Nhưng phê? Sao lại phê?” Ông chỉ nhận nó là một quyển hợp tuyển thôi.

Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng cuốn Thi nhân Việt Nam không mang cái tên phê bình cũng phải, vì nếu là phê bình thì sao chỉ phê bình có một mặt, rặt những cái đẹp, cái hay. Về chuyện này, Hoài Thanh phân trần :

“Nếu trong quyển này, ít khi tôi nói đến cái dở, bạn hãy tin rằng không phải vì tôi không thấy cái dở. Nhưng tôi nghĩ rằng đã dở thì không tiêu biểu gì hết. Đặc sắc mỗi nhà thơ chỉ ở trong những bài hay.

… Thỉnh thoảng có nói đến cái dở là cũng cốt cho nổi cái hay mà thôi”.

Vũ Ngọc Phan cho rằng cuốn Thi nhân Việt Nam cũng chưa phải là một quyển hợp tuyển. “Điều cốt yếu của một quyển hợp tuyển là sự chú thích và dẫn giải. Ngoài bài thơ của Đoàn Phú Tứ (bài “Màu thời gian” – HV) có lẽ tác giả đã tự giảng lấy – nếu không, khó có người hiểu được – không có bài nào chú thích và giảng giải cả. Giải thích chính là điều rất cần cho độc giả bậc trung và học sinh là hạng người đọc những sách hợp tuyển nhiều hơn cả (3).

Mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam, sau khi cung chiêu anh hồn Tản Đà, Hoài Thanh viết lời mở đầu cho cuốn sách bằng bài “Một thời đại trong thi ca” dài đến 47 trang. Đó là bài đại luận về sự chuyển hướng của thi ca Việt Nam cận đại. Trong đoạn cuối bài này, ông viết thật hay :

“Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ “tôi”. Mất bề rộng, ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.

Cả trời thực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta. Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế. Cùng lòng tự tôn, ta mất luôn cả cái bình yên thời trước…”

Dù muốn dù không, cuốn Thi nhân Việt Nam vẫn là một cuốn hợp tuyển những bài thơ mới. Cuốn sách có giá trị một bảng tổng kết phong trào thơ mới sau mười năm phát triển (1932 – 1941), trong đó có những nhận xét tinh tế và sự phát hiện những thi tài mới.

Sau Thi nhân Việt Nam , người yêu thơ kỳ vọng ở ông nhiều. “Sự kỳ vọng của công chúng với ông là chính đáng và có cơ sở : một người đã viết nên Thi nhân Việt Nam chắc hẳn có đủ tâm và tài để gửi tới bạn đọc một “Hậu Thi nhân Việt Nam” của thời đại mới. Chẳng lẽ một phong trào với độ dài mười năm đã khiến ông say mê và đủ sức viết nên một “cuốn sách để đời”, thế mà ngày nay, với ba bốn chục năm sáng tạo thơ ca, chẳng lẽ tác giả Thi nhân Việt Nam lại không kết nổi một bó hoa mới tặng người yêu thơ?” (4).

Ta biết Hoài Thanh hiểu rất rõ cái đơn đặt hàng ấy của xã hội và trăn trở nhiều trước sự mong đợi của bạn đọc từng yêu mến ông. Nhưng tiếc thay, đến ngày ông từ trần, cuốn sách mong đợi ấy vẫn chưa ra đời. Tại sao? Theo ông thì vẫn “chưa có những điều kiện tối thiểu” để hoàn trả món nợ ấy. Thật đáng tiếc biết bao !

Bên cạnh cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh còn có một cuốn khác cũng khá nổi tiếng. Đó là cuốn “Văn chương và hành động” do Hoài Thanh chấp bút, Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư phụ viết, xuất bản năm 1936. nhưng chưa kịp phát hành thì bị nhà cầm quyền Pháp tịch thu. Sau này, năm 1998, Nhà xuất bản Giáo Dục cho in lại nguyên bản trong cuốn “Bình luận văn chương” của Hoài Thanh.

Trong “Lời nói đầu” của cuốn sách này, tác giả nêu lên quan điểm của mình :”Một người có thiên tài làm được một bài thơ hay, viết được một quyển truyện hay. Một bọn người xúm lại giành nhau nói đó là nghệ thuật vị nghệ thuật, đó là nghệ thuật vị nhân sinh, là cổ điển, là lãng mạn, là tả chân…. và nhiều nữa. Mỗi người vội xướng lên hay nhai lại một lý thuyết về văn chương và bảo người đời hãy noi theo đó. Nhưng một trăm pho sách nói về lý thuyết văn chương chẳng có thể giúp người ta sáng tạo được một tác phẩm văn chương giá trị….”

Trong bài “Nhà văn hoàn toàn” Hoài Thanh viết :”Thế giới ngày nay như một nhà tù lớn, hình sắc dầu có khác nhau mà những gông cùm, xiềng xích thì đều như nhau cả. Người nào không chịu để cho người ta khắc lên trán một cái dấu hiệu chung, ấy là người bỏ đi…”

Trong bài “Cần phải hành động” , ông viết :”Đêm đã khuya. Trong bầu không khí im lặng của thành phố, thỉnh thoảng một tiếng rao dài… Người ta tưởng chừng nghe thấy tiếng kêu thương của cả đám người lao khổ. Có ai nghe tiếng gọi vô tình và thiết tha ấy mà dửng dưng? Bao nhiêu sự vất vả, bao nhiêu điều đau khổ vô ích ! Bao nhiêu tài trí, bao nhiêu cuộc đời bỏ đi ! ….Một ngày tình thế ấy còn, người ta không thể đặt mình ra ngoài thời đại….”

Viết như thế, sách không bị tịch thu sao được ?

Trong cuốn này còn có những bài Ý nghĩa đời người, Ý nghĩa văn chương, Thành thực và tự do trong văn chương…. nói lên lòng nhiệt thành của tác giả đối với con người và văn chương.

Từ năm 1935 đến năm 1939 nổ ra cuộc bút chiến giữa Hoài Thanh và Hải Triều về vấn đề “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh”. Lẽ tất nhiên, hồi ấy (chưa có cuộc Cách mạng tháng tám) Hoài Thanh đứng về phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật”.

Thiếu Sơn đã mở màn cho cuộc bút chiến ấy. Một bên là Thiếu Sơn với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều ; bên kia là Hải Triều với Hải Thanh, Hải Khách, Hải Âu, Hồ Xanh, Lâm Mộng Quang, Thạch Đông, Hỏa Sơn, khá hùng hậu.

Mở đầu, Thiếu Sơn viết bài “Hai cái quan niệm về văn học” chủ trương văn chương phải lấy nghệ thuật làm mục đích chính (Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 38, ngày 16.2.1935). Để trả lời, Hải Triều viết bài “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh?” là một bản tuyên ngôn, chẳng những để đả kích Thiếu Sơn mà còn đưa ra chủ thuyết duy vật vì nghệ thuật . Bài này đăng trên báo Đời Mới ra ngày 24.3.1935.

Cuộc tranh luận ngày càng gay gắt và đi vào chiều sâu của vấn đề. Sau khi Thiếu Sơn rút lui, Hoài Thanh vào thay thế và là “đầu tàu” của phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”.

Mặc dù Hoài Thanh không nhận mình chủ trương thuyết “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, nhưng ý kiến của ông rất hấp dẫn , sắc sảo, có sức lôi cuốn mạnh, thực sự tiêu biểu cho quan niệm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” đang thịnh hành thời bấy giờ.

Quan điểm của ông là : Văn chương là chính nó, chứ không phải là một cái gì khác xa lạ với “chân tướng lộng lẫy “ của nó. Văn chương là sản phẩm kết tinh của sự rung động trong tâm hồn nghệ sĩ trước cái Đẹp vĩnh cửu, trước những buồn vui muôn thuở của Con Người viết hoa, tức con người thuộc về nhân loại mà thôi. Tác phẩm văn chương là bông hoa mọc trên cuộc sống đầy dẫy những nỗi nhọc nhằn, chật vật, nó giúp cho người ta một sự thoát tục, say sưa vươn tới cái Đạo, cái Thâm chân huyền diệu. Thiên chức của nhà văn là tôn thờ và phụng sự cái Đẹp, cái hay, cái tốt qua hình thức biểu hiện nghệ thuật của tác phẩm, điều phải chú trọng trên hết, trước hết. Nhà văn với tài năng độc đáo và bút pháp (cách tả, lời văn) mang tính nghệ thuật, viết về cái gì cũng được, lấy tài liệu ở ngoại giới hay tâm giới, đâu cũng được “miễn là làm thế nào tạo nên cái đẹp, trao mỹ cảm cho người xem” thì thôi (5).

Cuộc bút chiến kéo dài bốn năm, đến năm 1939 thì kết thúc mà không phân thắng bại cũng như bao cuộc bút chiến khác ở nước ta.

Từ khi tham gia cách mạng, Hoài Thanh đã tự điều chỉnh mình, thoát bỏ cái nhãn quan “nghệ thuật vị nghệ thuật” để xây đắp một nền văn chương nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và nhân văn. Tuy nhiên, ông viết : ”Mọi thứ nghệ thụât, cái đích của nó phải là phục vụ nhân sinh, nhưng muốn phục vụ nhân sinh cho tốt cũng phải có cái say sưa vì nghệ thuật” (6). Như vậy, Hoài Thanh đã kết hợp được quan niệm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” với “Nghệ thuật vị nhân sinh” một cách biện chứng như hai mặt của một tờ giấy.

Trong cuốn “Di bút và di cảo” của Hoài Thanh (7) có đoạn ghi lại lời cố Tổng bí thư Lê Duẩn từ năm 1947, qua hồi ức và lời kể của ông Huỳnh văn Gấm, đã gợi cho Hoài Thanh kịp nhận ra rằng ý kiến trước đây của ông vẫn còn để ngỏ cho một sự đánh giá khoa học. Ông Huỳnh văn Gấm kể : ”Anh Duẩn nói về nghệ thuật. Anh nhắc đến cuộc tranh luận giữa Hoài Thanh và Hải Triều. Theo anh, nghệ thuật có thể phản ánh gián tiếp, không nhất thiết bức tranh nào cũng trình bày bằng hình ảnh công nông. Một bông hồng rung rinh dưới ánh nắng mặt trời trong sương sớm, sao lại không được xem là nghệ thuật vị nhân sinh?” (Sđd trang 55).

Nhà văn Hoài Thanh từ trần đến nay đã được 28 năm. Khoảng thời gian ấy đủ để ta nhìn nhận lại toàn diện những thành tựu, những cống hiến cũng như sự lệch lạc của ông. Chúng ta có thể khẳng định rằng Hoài Thanh là nhà văn xuôi kiệt xuất, là cây bút nghiên cứu, phê bình văn học có uy tín, đã góp phần quan trọng vào sự trưởng thành của ngành phê bình văn học ở nước ta.


________________________________________________________

(1) Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, sinh ngày 15.7.1909, quê gốc : Nghi Trung, Nghi Lộc, Nghệ An, mất ngày 14.3.1982 tại Hà Nội.
(2) NXB Nguyễn Đức Phiên (Huế) 1942.
(3) Nhà văn hiện đại quyển III (NXB Vĩnh Thịnh Hà Nội 1951) trang 213.
(4) Nguyễn Bao –“Keo vật và món nợ”.
(5) Trích lời bạt cuốn “Bình luận văn chương”
(6) Hoài Thanh – ngày Tết đọc thơ xuân (1964) in trong cuốn “Chuyện thơ” (NXB Tác phẩm mới Hà Nội 1978) trang 57.
(7) NXB Văn Học Hà Nội 1993 (do con trai cả của Hoài Thanh là Từ Sơn biên soạn).







Viết bởi vietvanmoi, 14 April 2010 16:50 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

THÁNG BA GIỖ MẸ của MAI THỤC





 

THÁNG BA GIỖ MẸ



MAI THỤC

 

           Câu tục ngữ “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” truyền  dân gian, như mệnh lệnh tâm linh, để mỗi người con Việt tìm về Đạo Mẫu.

         Đạo Mẫu lấy Mẹ làm linh tượng, nhưng bên cạnh Mẹ có Cha. Nếu tháng ba, người dân đổ về Phủ Giầy- Nam Định và các đền, điện thờ Mẫu khác để giỗ Mẹ- ngày hóa của Thánh mẫu Liễu Hạnh, vị thần chủ Đạo Mẫu, thì tháng tám là ngày giỗ cha- vua cha Bát Hải Đại vương, đức Thánh Trần, được thờ chính ở đền Đồng Bằng (Thái Bình) và Kiếp Bạc (Hải Dương). Ngày hội giỗ Mẹ- Cha, với nghi lễ hầu bóng (lên đồng) của Đạo Mẫu, từ lâu là nhu cầu tâm linh không thể thiếu của người Việt Nam ở trong, ngoài nước.

        Các nhà nghiên cứu khẳng định Đạo Mẫu là sự tích hợp các giá trị văn hóa- nghệ thuật dân gian qua các bài văn chầu, truyện thơ kể sự tích các Thánh, diễn xướng, hát chầu văn, hầu bóng… (Sách Đạo Mẫu ở Việt Nam- NXB Văn hoá Thông tin- 2006)

               Nghi lễ lên đồng hay hầu bóng như hành trình của thần linh vui sống với trần gian. Lên đồng là hiện tượng nhập hồn nhiều lần của các thần linh Đạo Mẫu vào thân xác các bà đồng, ông đồng để ban phúc lành, sức khỏe, bình an… cho người trần. Đây là hình thức diễn xướng dân gian tổng hợp, một loại hình sân khấu tâm linh với các động tác hát múa, nhập vai Thánh trong không khí âm nhạc và làn điệu hát văn cổ truyền. Múa hầu bóng linh thiêng, kết hợp âm nhạc, lời hát và nghi lễ tôn giáo thể hiện sự tái sinh của Thánh trong thân xác người nhập hồn. Các ông đồng bà đồng say ngây ngất khi thánh nhập, tạo trạng thái mê ảo trong tâm hồn người dự. Họ như được gặp gỡ thánh hiền mỗi khi các thánh giáng đồng: Quan đệ Nhất, đệ Nhị, đệ Tam, ông Hoàng Bảy, Hoàng Mười, Tứ vị Chầu bà, cô Bé, cô Chín, cậu Bé, cậu Ba… trong sắc màu rực rỡ, mỗi người một kiểu áo quần, một màu sắc thiên nhiên, mỗi màu tượng trưng cho một miền vũ trụ: thiên phủ màu đỏ, đất màu vàng, sông biển màu trắng, núi rừng màu xanh… Họ sống trong không gian mộng ảo, cảm thấy các thánh thương yêu, an ủi, chở che, chữa bệnh, trao niềm vui, tặng quà, trợ giúp phút khó khăn… Sự giao cảm giữa người và Thánh trong lễ hầu bóng là phút thăng hoa kỳ diệu, giải tỏa những ẩn ức chất chồng. Người lên đồng và người tham dự đều thấy mình khỏe ra, vui, nhẹ nhõm, quên âu lo, nhọc nhằn.

        Lên đồng xuất hiện thời hậu Lê ở miền Bắc rồi cả nước, và người Việt đi Pháp, Mỹ, Úc, Đức, Anh, Nga… đã mang theo Đạo Mẫu và nghi lễ lên đồng, như một hành trang kết nối cùng tổ tiên, nguồn cội.

                           Tháng Ba giỗ Mẹ.

         Bà Nguyễn Nga, Việt kiều Pháp- người sáng lập Ngôi nhà nghệ thuật (Maison des Arts 31A- Văn Miếu- Hà Nội) sau nhiều năm nghiên cứu Đạo Mẫu, nay đủ duyên giới thiệu Đạo Mẫu cho du khách trong, ngoài nước (tại Maison des Arts) với một điện thờ linh thiêng, đủ những pho tượng cổ Tam tòa Thánh Mẫu: Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Thánh Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thoải, Mẫu Thượng Ngàn… với nghi lễ lên đồng huyền ảo, riêng sắc màu Việt.

           Đêm Hà Nội yên bình. Chúng tôi cùng các bạn quốc tế, các phu nhân đại sứ, các vị tham tán văn hóa… được tham dự lên đồng cổ truyền tại Maison des Arts. Lên đồng cuốn hút bạn nước ngoài vào không gian nghệ thuật tâm linh đặc sắc hồn Việt.

         Phu nhân đại sứ Pháp mê cuộc vui suốt bốn, năm giờ liền. Bà thốt lên: “Thật tuyệt vời. Lên đồng đã gom vào tất cả các loại hình hát, múa, âm nhạc đồng quê Việt, cả trình diễn thời trang dân tộc, đủ các kiểu áo quần, màu sắc, và tâm hồn, nhân cách các vị anh hùng dân tộc Việt… Lên đồng giúp chúng tôi hiểu người Việt Nam là ai”

         Bà Nguyễn Nga nói về Đạo Mẫu:

  • Trên con đường tìm về cội nguồn bản sắc văn hóa

Việt Nam, tôi đã tìm thấy trong Đạo Mẫu, một tín ngưỡng xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVI, nhiều giá trị văn hóa, quan trọng hơn cả là Chầu văn cho các giá đồng. Tôi tha thiết với nó, vì đã thể hiện truyền thuyết Lạc Long Quân- Âu Cơ và cái bọc trăm trứng. Các giá đồng còn ca ngợi, làm sống dậy, và mong gặp lại, hình ảnh, nhân cách cao đẹp của các vị anh hùng đánh giặc, người có công khai mở vùng đất mới, người thương dân: dạy làm nghề, chữa bệnh, dạy văn hóa, nghệ thuật… và một phần trong số những người được dân tôn Thánh là người dân tộc vùng núi. Bởi thế, Đạo Mẫu thu cả một vùng non nước, tâm hồn, nghệ thuật của đại gia đình Việt Nam trong ý thức xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hầu bóng đã tham dự vào lĩnh vực giáo dục lòng yêu nước và hoàn thiện nhân cách Việt Nam qua các nhân vật có thật, được dân thờ như Trần Hưng Đạo…

    Khi sáng lập Maison des Arts, tôi vừa muốn phổ biến,

vừa muốn chia sẻ các giá trị văn hóa ngàn năm thông qua các sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng, âm nhạc… truyền thống, mà Đạo Mẫu không thể vắng bóng ở Maison des Arts.

        Bà Nga còn nhìn lễ nghi hầu bóng ở góc độ xã hội:

  • Lên đồng đã góp phần xử lý tình trạng lệch giới tính

trong xã hội Việt Nam cực kỳ hay. Trong bất cứ xã hội nào, cổ, kim, Đông, Tây, đều có những người không thuận giới tính. Bị cô lập, bị dồn nén, họ biến dạng, bùng nổ, sinh rắc rối, phức tạp, đôi khi nguy hại cho xã hội. Hầu bóng tạo một không gian cho họ được sống hết mình với các nhân vật, sống nhiều kiếp, nhiều giới tính, giải tỏa những ẩn ức sinh lý, lúc là thánh, lúc là ông, là bà, là cô, là cậu…

         Hầu bóng là trạng thái thăng hoa hoàn toàn, giải phóng con người cá nhân, tạo an bình xã hội.

         GS Ngô Đức Thịnh cho biết lên đồng cũng là một trong các dạng thức của tín ngưỡng Shaman, phổ biến khắp các dân tộc trên hành tinh, nảy sinh từ thời xã hội bộ lạc, nay trong xã hội đô thị hóa, lên đồng là phương thức giải tỏa các dồn nén (stress) của con người. Với người Việt Nam lên đồng là tình cảm ơn Cha, nhớ Mẹ không bao giờ nguôi.

                                 Tháng Ba giỗ Mẹ.

          Xuân Canh Dần 2010. Chúng tôi tưng bừng tham dự cuộc tế lễ Mẫu Liễu Hạnh tại Đền Bà Kiệu ngay giữa Hồ Gươm.

        Đền Bà Kiệu thờ Mẫu Liễu Hạnh do bà Lê Thị Kiệu thuộc dòng họ Lê xây từ đời Lê Thần Tông (1619- 1628). Đền Bà Kiệu gắn với Hồ Gươm và cụm kiến trúc Đền Ngọc Sơn, Tháp Bút- Đài Nghiên, Cầu Thê Húc… thành một cảnh thiên nhiên hoà trời mây, non nước, con người, toả sáng tư tưởng Thiên- Địa- Nhân hợp nhất và khát vọng Hoà bình- Tự do- Bác ái của Thăng Long- Hà Nội.

          Thời Pháp thuộc, Viện Viễn Đông Bác Cổ Xếp Đền Bà Kiệu vào danh sách “Cổ tích liệt hạng” và Nhà nước ta đã công nhận di tích lịch sử văn hoá được xếp hạng. Đền có tên là Thiên Tiên Điện thờ Mẫu Liễu Hạnh, nhưng do bà Kiệu xây nên dân gian gọi nôm là “Đền Bà Kiệu”.

         Suốt gần năm trăm năm qua, ngôi đền thơm hương khói, tế lễ Xuân Thu nhị kỳ, thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh theo nghi lễ dân gian và đạo thờ Mẫu của người Việt.

        Nhưng có một thời gian dài cuối thế kỷ XX, Đền Bà Kiệu bị chiếm dụng làm chỗ bán tranh. Đồ thờ cúng, hoành phi, câu đối, bát bửu, quần áo tế lễ… đã bị biến mất. Chỉ còn gian hậu cung do vợ chồng ông Lê Mạnh Hùng, con trai của người thừa kế di sản Đền Bà Kiệu trông nom, gìn giữ thờ cúng.

         Nhiều tiếng nói vang lên đòi trả lại không gian Đền Bà Kiệu thờ Mẫu Liễu Hạnh.

          Linh thiêng thay! Mùa Xuân Canh Dần 2010. Mừng Thăng Long- Hà nội nghìn năm tuổi. Người ta đã thôi không bán tranh nữa. Trả lại Đền Bà Kiệu thơm hương khói thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

                                 Tháng Ba giỗ Mẹ.

         Lễ giỗ Mẫu Liễu Hạnh (giỗ Mẹ) tháng Ba hằng năm tại Phủ Giầy. Trước đó, các ngôi đền thờ Mẫu Liễu Hạnh khắp nơi trên đất Việt linh thiêng đều tế lễ Mẫu Liễu Hạnh. Đền Bà Kiệu, sau mấy chục năm im lìm, giờ đây lại được tưng bừng tế lễ Mẫu Liễu Hạnh. Bao nhiêu năm vắng cảnh tế lễ linh thiêng, Đền Bà Kiệu trống trải u sầu. Nay hồn thiêng Thánh Mẫu toả ấm mái ngói nâu nấp bóng đa già trong buổi lễ tế mùa Xuân.

         Đền Bà Kiệu mái ngói nâu trầm, sáng tươi màu sắc, âm thanh, nghi lễ dân gian.

         Đội tế lễ nữ của Thăng Long- Hà Nội gồm các cụ bà, gương mặt hoan hỉ, trang trọng, lộng lẫy trong trang phục áo dài thụng màu vàng, mũ hoàng hậu đính kim tuyến, chân đi hài, uyển chuyển dâng hương, đăng (đèn, nến), rượu, hoa quả, trầu cau, thực (xôi, oản)… Từng động tác của các bà, đều tăm tắp, nhịp nhàng theo người lĩnh xướng và  điệu Lưu Thuỷ rộn ràng như nước chuyển của dàn bát âm.

           Tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng sáo, tiếng nhị, tiếng gõ mõ… rộn rịp âm vang từ mái chùa cổ kính, dưới bóng đa già Đền Bà Kiệu tan theo sóng nước Hồ Gươm xanh biếc, gọi mời du khách năm châu bốn biển đang dạo ngoài Hồ Gươm vào đền. Họ xúm lại, vây kín Đền Bà Kiệu, lẫn vào không gian ca múa nhạc dân gian Việt như bước vào câu chuyện cổ tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

          Những mái tóc vàng, đen, trắng bạch kim, gương mặt tươi sáng, hồn nhiên, quay phim chụp ảnh lia lịa. Những cụ già, trẻ nhỏ, nam thanh, nữ tú quanh “Băm sáu phố phường” kéo nhau vào Đền Bà Kiệu, hân hoan cùng nhịp trống.

           Chiêng trống nổi lên hoà cùng tiếng sáo, tiếng mõ, tiếng đàn nguyệt… làm cho không gian buổi tế thêm linh thiêng. Những người tế thực hiện nghi thức tế như các diễn viên hướng những người tham dự đồng cảm tâm linh thiêng liêng. Trên cao, Thánh Mẫu như đang hiện xuống trần gian, vui cùng cõi người, ban phúc, che chở cho cộng đồng làng xã… Đó là giây phút hoá thân, nhập cuộc của mỗi con người vào yếu tố lễ thức và nghệ thuật dân gian Việt Nam, nghìn năm còn lại.

       Theo ông Nguyễn Mạnh Hùng, Đền Bà Kiệu còn lưu giữ đạo sắc Quang Trung và đạo sắc Cảnh Thịnh (con trai Quang Trung). Sắc chỉ của Quang Trung phong Bà Chúa Liễu Hạnh là Đế Thích Thiên đình Liễu Hạnh Công chúa- Thượng đẳng thần (năm 1788) và cho phép thờ Bà ở điện Thiên Tiên tức Đền Bà Kiệu. Nơi đây còn có bài ký trùng tu đền năm 1886 do ông Nguyễn Huy Kỷ viết:

       “Thăng Long kể từ triều Lý, triều Lê về trước là kinh kỳ của Việt Nam ta vậy. Trải qua thời gian hàng ngàn năm, đền quán, đình miếu, linh tích nhiều vô kể. Nhưng cảnh đẹp tuyệt vời, khói hương mãi mãi, Thần Tiên giáng thăng, khiến người trai giới lễ bái, có nơi nào đẹp hơn đền Huyền Chân phía Đông Hồ Hoàn Kiếm… Nguyên ngôi đền được xây vào thời Lê Trung Hưng, mở rộng thêm vào những năm Cảnh Trị. Đền đổi tên là điện Thiên Tiên, việc thờ cúng thuộc về con cháu họ Lê.

        Ôi! Linh tích miếu đường nguy nga thay đổi khác xưa để phụng thờ thần, cầu phúc đáp đền công thần. Đó là việc thường tình của người đời vậy. Thời gian thay đổi mà không đổi, cảnh đẹp của non sông vẫn thế. Cây xanh, hồ xanh, bóng chiều ấm áp hoà quyện cùng các bậc quân tử, mặc khách tao nhân”.

           Xuân Canh Dần 2010. Mừng Thăng Long nghìn tuổi. Người Hà Nội và du khách thập phương bồi hồi, rạo rực cùng lễ nhạc tế linh thiêng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh toả vang ấm Đền Bà Kiệu. Hồn linh thiêng Thăng Long nghìn năm lại về. Sắc màu Thăng Long nghìn năm lại về cùng các vị thần Thăng Long vui sống với nhân gian.

           Tiếng các bà, các chị vui ca hát quan họ vang vang lan trong gió chiều Hồ Gươm: “Tính tình tang, tang tính tình tang… em đi vào đền là em đi vào đền… Vào đền là em đi vào đền, tay em thắp là nén nhang, em khấn là em vái… tính tình tang em đi vào đền.”

         Du khách nước ngoài qua đây, thành kính ngưỡng mộ nét đặc sắc văn hoá Thăng Long- Hà Nội, độc nhất vô nhị trên thế giới. Đó là những âm thanh, sắc màu, hồn thiêng của nền văn minh đồng bằng Bắc bộ- văn minh lúa nước, trường tồn cùng người Việt Nam.

                          Tháng Ba giỗ Mẹ.

        Lễ tế giỗ mẹ diễn ra ở tất cả mọi ngôi đền thờ Mẫu Liễu Hạnh. Nhưng trung tâm vẫn là ở Phủ Giầy, nơi giáng sinh và cũng là nơi hoá của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, chính thức bắt đầu vào ngày mồng ba tháng ba hằng năm, kéo dài chục ngày. Nhiều nghi thức diễn ra trong những ngày giỗ mẹ linh thiêng. Hầu bóng là nghi lễ không thể thiếu trong ngày giỗ mẹ tháng Ba. Trong nghi lễ hầu bóng không thể thiếu các bài văn chầu được sáng tác bằng chữ Nôm, chữ Hán, chữ Quốc ngữ. Đây là những bài Thánh ca, ngợi ca công đức và kể sự tích Thánh Mẫu. Thánh ca được các cung văn hát trong cuộc hầu bóng Thánh Mẫu cùng với âm nhạc, múa hát, diễn của người nhập đồng tạo không khí linh thiêng huyền ảo, hoà nhập giữa con người và thế giới thần linh. Hình thức phát triển cao hơn của thể loại văn chầu là truyện thơ, mang tính tự sự và trữ tình, khắc hoạ tính cách nhân vật, kể chuyện cuộc đời thăng trầm và những tình huống đầy kịch tính, nhưng hào hùng, bi tráng đầy chất thơ ca. Lời thơ của văn chầu nhiều khi chưa được chau chuốt, bởi phải chở cuộc sống của các vị Thánh, song với những sự tích thần kỳ, cảnh sắc thiên nhiên kỳ thú, vẫn cuốn hút người nghe và tạo hiệu quả tâm lý rõ rệt, tạo không khí đồng điệu, giao lưu, truyền cảm, huyền ảo, linh thiêng. 

                        Tháng Ba giỗ Mẹ

         Đến Phủ Giày, mọi người được tắm mình trong diễn xướng dân gian tổng hợp, một loại hình sân khấu tâm linh trong lễ hầu bóng. Âm nhạc vang lên cùng những làn điệu hát văn bay trong gió đồng quê từ tinh mơ đến đêm khua, làm nao nức không gian, rạo rực lòng người. Âm nhạc và hát văn trong lễ hầu bóng không chỉ đượm hương thờ Thánh, mà còn tươi mới hồn người với các làn điệu dân ca mượt mà sâu lắng. Đó là các làn điệu dân ca đồng bằng Bắc bộ: sa mạc, cò lả, bồng mạc… một số làn điệu ca nhạc thính phòng như hành vân, ngũ đối, kim tiền, lưu thuỷ… những làn điệu của âm nhạc ca trù, phú chênh, phú xuân, phú tỳ bà … của quan họ đường trường chim thước… của cải lương như xá quảng; của dân ca Huế; các điệu dân ca Mường, Tây Nguyên… Người ta ngỡ ngàng phát hiện ra hát văn trong lễ hầu bóng xuất hiện rất nhiều làn điệu. Mỗi khi một vị Thánh, một nhân vật xuất hiện với những điệu bộ và tính cách khác nhau, thì lại có một làn điệu âm nhạc phù hợp với vị đó. Và mỗi một làn điệu chính lại có nhiều giọng, nhiều cung bậc âm thanh khác nhau. Hiếm thấy một loại hình ca nhạc nào lại có nhiều làn điệu tinh tế, uyển chuyển như vậy.

         Âm nhạc và hát văn phong phú diễm tình đ a giọng

điệu, đủ sức diễn tả tâm hồn tính cách các vị Thánh hay cũng là con người Việt, hồn Việt.

         Các nghệ nhân chơi nhạc và hát trong lễ hầu bóng là những Cung văn. Họ là nhân vật  không thể thiếu bên cạnh các ông đ ồng, bà đồng. Họ vừa chơi năm loại nhạc cụ chính: nguyệt, cảnh, phát, trống và thanh la, vừa hát. Giọng hát của họ ngọt ngào, tình cảm, luyến láy theo từng thanh

sắc âm nhạc, quyến rũ, nâng người nghe vào thế giới ảo mộng Thánh thần.

         Âm nhạc và hát văn gây hưng phấn cùng với múa đồng. Khi Thánh nhập thân xác các ông đồng, bà đồng bị thôi miên, múa ngất ngây, cuốn mọi người vào trạng thái say mê ngây ngất trong cảm giác thần linh tái sinh và cộng hưởng nhịp sống với chính mình.

         Hầu bóng hội đủ những đặc tính của loại hình sân khấu dân gian mang tính tâm linh, hay gọi là sân khấu tâm linh. Nó thể hiện được ước mơ cao cả của con người, ngưỡng vọng vươn tới thế giới Thánh thần.

                           Tháng Ba giỗ Mẹ.

        Người Việt Nam hiện đại từ khắp trong, ngoài nước đổ về Phủ Giày- Nam Định hoá thân vào nghi lễ hầu bóng, thoả ước mong gặp Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Một vùng lúa mênh mang vang động rộn rã âm nhạc và hát văn đồng quê Việt vút lên cao bay bổng cùng Thánh Mẫu Liễu Hạnh- Đức Mẹ muôn dân, tạo ra khung cảnh văn hoá văn nghệ dân gian không đất nước nào có được.

         Chúng tôi mong nghi lễ hầu bóng ngày giỗ Mẹ sớm được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của  

Việt Nam và Thế giới.

                        Tháng Ba giỗ Mẹ.

              Bạn sẽ hỏi Mẫu Liễu Hạnh là ai?

        Xin tặng bạn câu chuyện cổ tích Mẫu Liễu Hạnh được chuyển thành văn vần cho dễ đọc.


          Mẫu Liễu Hạnh


Tín ngưỡng dân gian nhiều đời

Bà Chúa Liễu Hạnh hiện khắp nơi

Thánh Mẫu, người Việt sùng bái

Thờ đền, điện, phủ các vùng Bắc Nam

Nhiều nơi đền thờ riêng Bà

Lạng Sơn, đền Tiên

Sài gòn đền lớn Phủ Giày

Hà Nội Phủ Tây Hồ, Đền Bà Kiệu

Vụ Bản- Nam Định, Phủ Giày nổi danh

Vô vàn sách nói về Chúa Liễu

Một Con Người đa hình tướng

Sống động trong văn hóa dân gian

Nhiều thể loại văn nghệ về Bà

Sự tích, huyền thoại, hát múa, lên đồng…

Đoàn Thị Điểm sống sau Liễu Hạnh

Bút tài hoa uyên bác, kể chuyện Bà

Người phụ nữ công dung ngôn hạnh

Thiết tha yêu cuộc sống trần gian

Khát khao hạnh phúc ngày thường…

Tâm thức Folklore Việt Nam

Mẫu Liễu Hạnh là Nữ Thần

Trong hệ thống Thần Tứ bất tử

Phù Đổng, Tản Viên, Chử Đồng Tử

Mẫu Liễu Hạnh- Người Mẹ Việt Nam

Một nàng Tiên và Đức Phật

Trong bốn vị Thần bất tử này

Liễu Hạnh gần gũi đời thường

Tâm hồn phong phú, tinh tế, mãnh liệt

Sống và yêu, bình thường mà phi thường…

Tín ngưỡng Liễu Hạnh phát triển Đạo Mẫu

Đạo gốc cổ truyền, bản địa Việt Nam

Người Việt tin sâu sắc cộng đồng

Với cội nguồn dân tộc

Niềm tin từ thuở hồng hoang

Được hình dung qua đấng siêu nhân

Lạc Long Quân & Âu Cơ

Chở huyết thống gia đình dòng họ

Khẳng định dân tộc ta một giống

Cùng một bọc Mẹ sinh ra

Thế mạnh dân mình Mẫu hệ

Tam phủ là điện Mẫu 

Thờ bà Tổ Mẫu ba thị tộc

Mẫu Thượng ngàn cai quản núi rừng

Mẫu Thoải quản lý sông nước

Miền đồng bằng do bà Quỳnh Hoa

Đạo Mẫu- Đạo Mẹ dân gian

Ngàn xửa xưa đã có ở đất này

Mẫu hiện nhiều hình ảnh nghệ thuật

Mẹ Đất, Mẹ Xứ Sở, Mẹ Lúa

Mẹ Núi, Mẹ Rừng, Mẹ Chim

Bao nhiêu bà Mẹ nhiều cấp độ

Đạo Tứ phủ qui, Mẫu lớn nhất

Mẹ trên Trời- Mẫu cửu Thiên Huyền Nữ

Mẹ núi rừng- Mẫu Thượng Ngàn

Mẹ sông biển- Mẫu Thoải

Mẫu Liễu Hạnh- Mẹ Trần gian

Mẫu Liễu Hạnh là Con Người thật

Người trần nâng thành Nữ Thần

Biểu tượng sức sống Tự Do- Nhân Nghĩa

Mẫu Liễu Hạnh, người đàn bà đẹp

Đức hạnh, tài hoa sinh Vụ Bản- Nam Định

Được tôn Mẫu nghi Thiên hạ

Thời kỳ đất nước nảy sinh

Những con người siêu hạng thế kỷ XV

Mạc Đăng Dung, Phùng Khắc Khoan

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Đào Duy Từ…

Giai thoại Chúa Liễu gắn Trạng Bùng

Phùng Khắc Khoan, danh sĩ thời Lê

Chàng gặp nàng, chùa Thành xứ Lạng

Hai người gặp lại, xướng họa Hồ Tây

Người ta đoán Phùng Khắc Khoan đã xây

Ngôi đền Hồ Tây thương nhớ khối Tình

Với người Tình, siêu hạng rất xinh

Mỗi lúc buồn dạo Hồ Tây

Phùng Khắc Khoan ngâm ngợi nhớ nàng

Kể chuyện gặp Liễu Hạnh cảnh Tây Hồ

“Ngồi trong cung thiếu niên thị nữ

Tựa ngoài hiên tài tử giai nhân

Ấy túc phúc Trời cao đưa lại

Cảnh Tiên được dự trần gian khách phàm”

Chuyện Tình tài tử giai nhân 

Mẫu Liễu Hạnh, con người thật

Phụ nữ tài ba lỗi lạc của một thời!

Nghiên cứu dấu tích Folklore

Kể chuyện Mẫu Liễu Hạnh

Ta bắt gặp ở Bà

Người yêu, thiếu nữ đẹp thông minh

Người vợ, người Mẹ hiền tần tảo

Nhà văn, nhà thơ, nữ tướng

Nàng Tiên, bà Chúa, Thánh Mẫu Việt Nam

Mẫu Liễu Hạnh khẳng định người phụ nữ

Ẩn chứa nhiều khả năng lớn

Nàng tồn tại chốn trần gian

Bất chấp quyền uy, thói lề kìm hãm

Mỗi lần bị tấn công

Một lần nàng chiến thắng

Sự bất tử của nàng

Là sự bất tử của sức sống mãnh liệt

Lúc nhân từ, khi tai quái, phút xông pha, lầm lỗi

Hoạn nạn nào, nàng vẫn tin yêu cuộc sống

Vẫn khát khao, tha thiết yêu thương

Gắn đời thường, tự giải phóng bản ngã

Người đàn bà như thế, được dân tôn

Mẫu Nghi Thiên hạ (Đức Mẹ muôn dân)

Nay tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh

Hòa tín ngưỡng thờ Mẫu bản địa

Thành một Đạo nội sinh thờ Mẫu

Liễu Hạnh- Mẹ Việt Nam

Mẫu Việt Nam được hình dung cụ thể

Hình tượng Mẫu Liễu Hạnh, gần đời

Trong cảm quan huyền thoại

Và tín mộ chân thành

Người dân trông đợi Mẹ

Người sống đời thực ngổn ngang, chồng chất

Vượt đau thương gian khó từng ngày

Dâng kinh nghiệm cho người noi theo

Mẹ yêu quê hương, làng xóm con người

Trách nhiệm thủy chung với gia đình

Mẹ bao la tâm hồn nghệ sĩ

Kiến thức uyên thâm

Sống hài hòa tâm hồn và thể xác

Tỉnh thức trong đời, vẫn ước mơ

Thực và mơ, hai bến bờ tâm thức

Mẹ cân bằng vui sống giữa trần ai

Hình tượng Mẹ lộng lẫy- Con Người Tự do

Thiên- Địa- Nhân hợp nhất. 

 

 

  Ghi chú: Nhà văn Mai Thục chuyển thể văn vần từ truyện cổ tích Công chúa Liễu Hạnh trong tác phẩm “100 truyện cổ tích hay nhất Việt Nam”. Tác giả Trần Mạnh Thường. NXB Văn hoá- Thông tin- 2006.  
 
   Bản chuyển thơ kể chuyện Thánh Mẫu Liễu Hạnh của Mai Thục dùng để hát chầu văn, hát chèo, tuồng, cải lương, hầu bóng nơi cửa đền thờ Mẫu Liễu Hạnh.

 

         

© Tác giả giữ bản quyền.

Viết bởi vietvanmoi, 11 April 2010 00:45 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

HÀ NỘI 100 NĂM TRƯỚC DI CẢO VÈ của MAI LÂM NGUYỄN ĐẮC LỘC




























 

 

 

HÀ NỘI 100 NĂM TRƯỚC
DI CẢO VÈ

của
MAI LÂM
NGUYỄN ĐẮC LỘC



Nhân dịp chào mừng 1000 năm Thăng Long (Hà Nội), Thế Phong & Từ Vũ Newvietart trang trọng giới thiệu với qúy độc giả tác phẩm di cảo của cụ Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc với mong ước tên tuổi và tác phẩm của cụ không bị rơi vào quên lãng, hoặc  có thể "bị chiếm dụng một cách bất đắc dĩ".

Newvietart.com
Neuilly, Pháp 08.04.2010 - 10.4.2010

 

(Tiếp và Hết)


Bác sĩ Phiếm  không còn trong cõi ta bà, kể cả  Nguyễn Đắc Lộc ,Nguyễn Xuân Chữ, Cả Sâm, vv..  Riêng  Nguyễn Hữu Phiếm,   từng là bác sĩ  riêng  chăm sóc sức khỏe  nhà văn  Nhất Linh-  chủ soái Tự lực văn đoàn , với cái  chết bất đắc kỳ tử ( 7/7/1963) - phản đối chế độ Ngô Đình Diệm đưa ông ra  tòa xét sử vể tội  lật  đổ chính quyền .

Dưới đây trích đôi ba  đoạn vè phúng thích chính trị  của tác giả Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc: :

 

.... Ô Đông Mác ít ngựa xe 
Bởi khu rừng ổi mặt đê Thanh Nhàn
Sông Hồng bãi nổi cát vàng
Bên trên Đồn Thủy, nhà thương Tây Đầm (Lanessan) 
 Đường nhượng địa, nơi Trung tâm  
Địa dư Chánh sở, có tầm Ma -Gio (État Major) 
Dinh Ông Sáu, Viện Finot
Đài Vô Tuyến điện, bây giờ tang thương...
  Y khoa Cao đẳng học đường
Con đường Hàng Chuối, mở màn đấu tranh
Năm bốn tám, nghĩ hận tình
Tiệc vui nhà " Tĩnh", hợp thành ở đây (vợ Lô Văn Tĩnh)
Tưởng là cơ hội rồng mây
Hóa tranh vân cẩu treo ngay trên đường ...
"Lê Văn Hoạch "thăm Bắc phương
Nguyên nhân thủ tướng đàng hoàng mới ra ..
Thú vui viếng bạn Bắc hà
Họp nhau bàn chuyện gần xa tâm tình
  "Xuân Hy "tổ chức linh đình
Mời tay trí thức Hà thành tri âm
" Thế Truyền"(1) -Xuân Chữ, Cả Sâm
" Lộc già" , " Nguyễn Đễ" tình nhân thưở nào...
Những tay  tạo dựng phong trào
Xưa nay hoạt động xôn sao Bắc hà...
Rõ ràng" ngũ phúc" đáo gia  
Ngờ đâu ngũ phúc " lại nhà" chẳng hay !
Bạn" Trúc Lâm", đủ bẩy tay
  Tỏ tình đoàn kết... tính say cuộc đời 
" Lộc" đem kế hoạch bàn chơi...
Thử xem bụng dạ con người ra sao?
Rằng: nay chinh chiến lên cao?  
  Giặc ngoài tàn phá, phong trào hầu tan
Tây  thừa thắng, đánh , xâm lăng
Ta cần bầy tỏ can tràng cứu dân
Tình trung báo quốc đền ân
Chúng ta phải  biết nắm cầm thời cơ ...
Sống trong Thành như bây giờ
Trùm chăm nằm đó, dân chờ vào ai?
Ích chi than vắn, thở dài
  Bàn suông thế  sự, tránh vai  đóng tuồng ?
Nên thực tế, chớ bàn suông
Ra tay tháo vát, tìm đường độ sinh...
Thật tâm vì nước quên mình
Trời kia sẽ biết công trình của ta !
Thị phi thêu dệt gần xa
Chẳng qua câu chuyện đàn bà xưa nay 
Trượng phu chẳng sợ ra tay
Vá trời lấp biển Đông, Tây thiếu gì?
Coi ngay câu chuyện Hitler !
Thơ sơn mà dám giở nghề Bá vương ?
( .............................)

-----------

(1 Nguyễn Thế Truyền, người Hành Thiện, cháu nội Nguyễn Duy Hàn , Tuần phủ Thái Bình.  năm 1913, ông bị ám sát bằng trái lựu đạn của Nguyễn Văn Cháng.  Thế truyền, con cụ Án Nguyễn Duy Nhạc,  Án sát Hà  Nam. Năm 1926-27, Thế Truyền sang Pháp du học. Năm 1926, thủ lãnh  Nhóm  " Việt Nam Hồn" ở Paris, hoạt động cách mạng, bị Pháp đưa đi đày ở đảo Réunion , được tha vào năm 1948.  Và" Lộc già" (tức Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc)  vào  đón Thế Truyền ra Hà Nội -- cùng ở đường Élorme với Nguyễn Đăng Thục, chung nhà với Phạm Xuân Thái (1917-   ?  sau Tổng trưởng Thông tin & Tuyên truyền thời Chính phủ Ngô Đình Diệm 1954) . Nguyễn Thế Truyền mất tại Saigon, đám ma cử hành long trọng, chôn cất gần mộ cụ Phan tại Nghĩa trang Gò Công vào năm 1970.

Xuân Chữ :  bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ mất tại  Saigon năm 1967.

Xuân Hy :  mất ở Hà Nội năm 1957.

Cả Sâm: tức Mai Ngọc Liệu, nhà cách mạng lão thành, tòng học Hoàng Phố (Trung Hoa)  năm 1924.  Đã gia nhập SIFO, dưới sự lãnh đạo của Caput Hà Nội, hợp tác với ( báo) Union, sau sát nhập báo LeTravail., mất  ở  Saigon 1972.  (Chú thích: Mai Lâm - Nguyễn Đắc Lộc). 

-----------

Trong thiên hồi ký này có nhiều đoạn tiết lộ về các nhân vật của Hà Nội vào đầu thế kỷ XX-  có thể liệt vào loại tư liệu thâm cung bí sử- như chỉ có một khám phá duy nhất của cặp mắt tinh đời sắc bén  Mai Lâm - Nguyễn Đắc Lộc mà thôi.

Không thể trích dẫn hết-  chỉ phơi bầy thêm một tư liệu rất hiếm ai biết-  đó là chuyện thông gia giữa hai dòng họ Phan và Hoàng.  Ông Phan Đình Phùng có con gái gả cho  con trai của  Hoàng Cao Khải.   Lý do thầm kín ,  Hoàng Cao Khải bằng lòng  nhận con gái Phan Đình Phùng làm  vợ con  trai (Hoàng Trọng Phu) nhà họ Hoàng để có cớ chiêu dụ Phan Đình Phùng  đầu hàng .  Rồi thêm chuyện khác  bí sử nữa- một tên Nhật bản lẻn tới đào mộ Hoàng Cao Khải ( 2)  ở Thái Hà  Ấp  vào năm 1919-  với mục đích gì,  thì chưa một ai rõ nguyên do:.

-----------

(2  : Hoàng Cao Khải và Phan Đình Phùng vốn là chỗ thông gia, con gái cụ Phan lấy Hoàng Trọng Phu, đẻ được một gái, thì đôi bên ly dị. Hoàng  Cao Khải gửi thư chiêu dụ Phan Đình Phùng  không thành; hiện trong sách  sử còn 2 bài thơ trao đổi với nhau rất lý thú, để làm sử liệu  cho hậu thế. 

Còn tên Nhật Bản  tò mò, tìm đến sinh phần của Hoàng Cao Khải tại Thái Hà Ấp vào 1919, không rõ nguyên do gì?  Hoặc, y tưởng mả có của, châu  ngọc như mả Tần Thủy Hoàng chăng? Hoặc, y tìm long mạch đất nước Việtnam? không ai rõ, bởi y bị đưa vào Hỏa Lò ngay trong đêm, rồi y tự sát bằng một sợi giây thắt cổ. (Chú thích: Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc).

-----------

Cùng đọc một đoạn thơ -vè  nữa :

" ( ..........)
Thái Hà Ấp, cụ Quận Hoàng
"Thái Xuyên Cao Khải" , Phó vương Bắc Kỳ
Thông minh biết trước thời cơ  
Kết thân với Pháp phất cờ ra tay
" Phan Đình Phùng" chống với Tây 
Vụ Quang chiếm cứ định ngày Cần Vương
Anh hùng nổi dậy bốn phương
Quyết tâm kháng chiến, tìm đường chiến khu
Giải Hồng Lĩnh chống kẻ thù  
Tiếng đồn đi khắp  chợ  Chu, Ba Đồn...
" Hoàng", " Phan " hai họ bà con
Cùng làng Đông  Thái lại còn sui gia
Tâm thư trao đổi tình nhà ,
Tỏ niềm tôn kính  nói ra cõi lòng...
Mở trang lịch sử coi chung
Đôi đường đôi hướng thế cùng phải theo
Thái Hà nhiều chuyện hiểm nghèo...
Nhắc qua cho rõ những điều xa xưa ...
" Năm Mười Chín" ( 1919) sự tình cờ
Một anh Nhật Bản lần mò ban đêm
Sinh phần lại tưởng mả nguyên
Một tấm bàn thạch gắn trên quan tài
Quyết không để chờ thời 
Chàng ta tưởng bở, cố lôi một mình
Sức Hạng Võ mới đủ khênh 
Thế mà nậy được, thật tình là hay !
Bất đồ tuần vớ được thầy
Tù và, giáo mác dẫn  ngay về đồn  
Tiếng Nhật Bản như sóng cồn
Hỏa Lò giam tạm... để còn ngoại giao
Nòi võ sĩ vốn tự hào
Xưa nay rạch ruột ai nào đã quên ?
Trên lầu cao, lúc ban đêm
Tên tù gửi tạm... vội liền quyên sinh .." 
( ......................................)

------------------------

Danh nhân tiền chiến được nhắc đến- cả tiểu sử thật độc đáo- tác giả biết  đầy đủ chi tiết, - về  nhà văn PhanTrần Chúc,  Dương  Thiếu Niên ( tức Dương Bá Trạc) , Đám Quang Thiện,  Tam Lang- Vũ Đình Chí, Nguyễn Đăng Thục, Phạm Xuân Thái với Nhà sách" Tứ Hải", Công sứ Sơn La  Cousseau từng là chúa Ngục,  kịch tác gia Đinh Xuân Cầu ( rể  kịch tác gia kêm chủ báo, nhà xuất bản Vũ Đình Long ) , nhà báo  Nguyễn Văn Luận, Nguyễn văn Vĩnh,  nhà làm chính trị  Hoàng Nam Hùng , võ sư Nguyễn Lộc, nhà  văn Nhị Lang, nhà làm cách mạng Nguyễn Hảo Đàn ( tham gia Phong trào Đông Du , sau mở nhà in " Bảo Tồn" ở Saigon, từng in sách Phan văn Hùm),  bác sĩ chủ báo Hoàng Cơ Bình,  chủ ga- ra xe hơi  Lê Đình Gioãn,  ký giả  Frank báo  L'Entente (ở Hà Nội 1947-1954),nhà báo cấp tiến , gốc Alsace phiêu lưu qua Đông Dương -  tính tình bình dân, khác hẳn bọn ký giả thực dân )  , nhà ngôn ngữ Nguyễn Bạt Tụy, nhà làm chính  trị Đinh Xuân Tiếu, nhà  báo Đào Trinh Nhất ( tự Quán Chi), Nhượng Tống, Ấm Hiếu (Tản Đà- Nguyễn Khắc Hiếu), tuần phủ Cung Đình Vận, (" Lộc già" có lời bình:" ..năm 1928-29, tri huyện Yên Hưng (Quảng Yên) - vốn là ông quan sắc mắc, tận tâm với Chính phủ Bảo hộ . Võ giỏi, văn cũng hay, làm thân với Nguyễn Xuân Chữ, Y sĩ trưởng Nhà thương Quảng Yên- để cố ý theo dõi, dò là, theo chỉ thị thượng cấp, quan Tây.  Cung Đình  Vận rất chí tình với bè bạn, cách ăn chơi cũng thuộc loại khá, có thề là bè bạn giao du thân thiện được), nhà đòn  Louis Chức ( " với vời bình" .. nhà đòn giàu có.  ở Hanoi xưa kia, vốn người Giáp Bát, lấy tên tây làm oai cho hợp thời thế", Ngô Vân ( chủ nhiệm báo Tia sáng ở Hà Nội trước 1954) , Nguyễn Văn Tộ (nguyên sinh viên Cao đẳng Sư phạm Hanoi,  gốc Nam Kỳ, ra mắt công chúng Bắc hà, tại Sân kâấu " Quảng Lạc" , vở kịch" Tối độc phụ nhân tâm"  do anh em sinh viên Nam Kỳ hát, trước cả Ban  hát Năm Phỉ, Phùng Há.. đó  là bản vọng cổ đầu tiên" Hoài Lang Dạ Cổ" của  Sáu Lầu, nghệ sĩ lão thành  miền Nam ,được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt.  Không rõ Nguyễn văn Tộ còn sống hay đi đâu, không có tin tức gì ráo trọi,  kể từ năm 1935)., bác sĩ Lê Toàn   (sang Nhật  năm 1941 với Vũ Đình Dy- phò tá Ngài Cường Để,,sau Ngài  mất tại Saigon ), toàn quyền Albert Sarraut ( tiếng việt  " Sa Lộ Đại Nhân), ông này giử ghế toàn quyền hai khóa- từ 1913-1917, cha đẻ "Trái Phiếu 50 đồng"  bán cho dân chúng trong Đệ nhất thế chiến 1914-18). vv...

Lời bình nhân vật  trưng dẫn -  lối viết rất độc đáo  nhân vật-tiểu sử , gọi là thơ -vè phúng-thích-chính-trị  có một, không có hai -  tác giả là nhà báo kỳ cựu Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc,  sinh ở  Hà Nam,  nguyên quán  Hà Nội , với   di cảo " Hà Nội 100 năm trước".(3)

 Tác phẩm: " Phan Chu Trinh" (1952), Mộng Xuân (tiểu thuyết, Hà Nội 1954), " Sau 20 năm" (bút ký lịch sử, Đại Nam văn hiến, Saigon 1964), " Thẩm Công truyện " ( truyện thơ, Đại Nam văn hiến, Saigon 1968), v v...

-----------

(3  -  tác giả tự gọi  bản thảo này là" trường ca hồi ký"; còn cố bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm,  người viết tựa, lại  cho: rằng  ".. viết hồi ký sao cho trung  thực đã là ôột điều khó, nhất là viết về những việc đã xảy ra cách đây 3/4 thế kỷ, huống hồ là diễn tả bằng' thơ"- hay " vè"...(trong bài" Đề Tựa" viết năm 1973)

Sài Gòn 1997.

THẾ PHONG

(trích  trọn bài " Mai Lâm_Nguyễn Đắc Lộc: 1897-1975)

 "CHIÊU NIỆM BỐN NHÀ VĂN SÀI GÒN: Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng

 Tam Lang- Vũ Đình Chí & Mai Lâm -Nguyễn Đắc Lộc "  nxb Đồng Nai 1999). 

 

Trích

Hà Nội sông Nhị núi Nùng
Giang sơn cẩm tú Thăng Long tuyệt với
Xuân thu lan cúc khoe tươi
Hạ nồng, sen nở, đông cười, đào tơ
Bốn mùa liễu rủ rèm thưa
"Khách Chương Đài" hỏi "bây giờ còn ai?"
Quê hương cách trở đôi nơi
Càng xa càng nhớ đến lời non sông
Trăng thu mây vẽ nên rồng
Mặt gương "
Lãng Bạc" (4) soi chung muôn đời
Tiếng chuông Trấn Vũ êm tai
"
Nhịp chày Yên Thái" (5) "canh chài Cổ Ngư"
Sen chùa Trấn Quốc thơm tho
Mùi hương thoang thoảng, con đò nghênh ngang
Cánh buồm rời bến Nghi Tàm
Mây lồng gió cuốn ánh vàng nhấp nhô
Bức tranh kim cổ chưa mờ
Tây Hồ tái tụng, nhớ thơ
Chiêu Lỳ (6)
Nhớ Trường Bưởi lúc thiếu thì
Vui chung chúng bạn cùng đi một đường
Thụy Khê, Quán Thánh náu nương
Ba thu lăn lóc đoạn trường ngày xanh
Mối tình cửa Khổng, sân Trình
Biết bao kỷ niệm thư sinh buổi đầu ?
Tin xuân kẻ trước người sau
Giấc Nam Kha (7) khóc mang sầu nước non
Theo đòi bút sắt nghiên son
Chu du dạo khắp đường mòn Hồ Tây
Nặng tình bến nước chòm cây
Đá vàng mơ tưởng sống đầy mộng xuân
Ngồi buồn nghĩ chuyện xa gần
Mảnh tiên tổ lại phong trần cỏ cây
Kể từ Nam bắc Đông Tây
Năm ô bốn cửa bao vây Kinh thành
Ngũ hồ mây vẽ nên tranh
Nét son khéo họa cảnh tình thiết tha
Trung tâm Đấu xảo đi ra
Dạo chơi cho biết tình nhà Thăng Long
Nhật Tân, Quảng Bá, Bờ Sông
Ra đê Yên Phụ vào trong Thái Hà
Nam Đồng, Cầu Giấy xa xa
Xuống Ô Đông Mác, lại ra Đường Thành
Ngao du sơn thủy hữu tình
Chơi hồ Trúc Bạch, xem "đình
Cổ Lương" (8)
Châu Long, Ngũ Xá, các phường
Bến Chàm, Bến Vẽ, lại sang qua Cầu
Gia Lâm, Giá Quất, cô đầu
Sân bay Quốc tế, con tàu hàng không
Đền Ghềnh, cổ miếu bên sông
Mặt đê chân nước, đôi đàng phân chia
Xưa đây là "
Bến Bồ Đề" (9)
Nương dâu cồn cát lối về Thăng Long
Làng chài ngư phủ bình bồng
Cầu Long Biên bắc ngang sông Hồng Hà
Non hai cây số bắc qua
Xe xe ngựa ngựa thật là tiện thay !
Nhớ xưa gặp chú "
Hai Tây" (10)
Làm quen hỏi chú "Cậu này đi đâu?"
Canh khuya thơ thẩn trên cầu
Không sợ ma bắt dìm đầu xuống sông
Nhip ba cậu nhớ hay không?
Có con ma đói cao ngòng gớm ghê
Thấy tôi lưỡi nó thè lè
Làm cho thất đảm bắt về dìm ngay
Bất ngờ vớ phải Hai Tây
Đánh cho một gậy, ngã ngay xuống cầu...
Nhìn theo chẳng thấy bóng đâu ?
Đêm khuya chớ có qua cầu mà nguy
Lắng tai nghe chú Ba lòe
Thằng tôi chính tổ đi khuya thành phần
Đường trường hay khoái làm thân
Lân la câu chuyện xa gần quen ngay ...
Hà Nội, ai lạ "
Hai Tây"?
Một nhà ảo thuật một tay làm trò
Đinh đóng mũi, nước uống: "xô" (sceau)
Thạch sùng nuốt chửng, êch vồ xé nhai
Thật là nhân vật kỳ tài
Sơn đông mãi võ mua vui xóm làng
Suốt đời sống cảnh lang thang
Nay đây mai đó bốn phương là nhà
Đầu Cầu mới lập nhà ga
Thông thường tiện lợi người ta đi về ...
Giữa Hỏa xa hai bên lề
Để dành tản bộ dân quê gánh gồng
"Eiffel" công tác thành công "
Doumer"(11) kẻ đã hết lòng lập nên
Tỏ ra khai hóa dựng nên
Mở mang kiến trúc "Lãng Sa" tân kỳ
Sau này mở rộng lối đi (1924)
Toàn quyền"
Long" nặng lòng mở mang
Bến Xe Bến Nứa Bến Đàng
Thuyền bè xuôi ngược trường giang Hồng Hà
Thú vui lên trại hàng Hoa
Chơi vườn Bách thú, Ngọc Hà dạo quanh
Đỉnh Nùng sơn , chùa
Bà Đanh (12)
Ngàn năm văn vật điển hình nơi đây
Hồ sen, cá lặn, cò bay
Thứ năm, chủ nhật" Hai Tây" làm trò
Mua vui cho lũ trẻ thơ
Coi phường
múa rối (13) hét hò giọng tây
Ngao du cũng  đủ  hết ngày
Sinh viên Trường Bưởi xưa nay ra vào
Chuồng hươu, chuồng vượn , ghẹo nhau
Chuồng voi, chuồng hổ, ngăn rào cách xa
Chim rừng, cá biển, ngỗng, gà
Sóc, trăn, rắn độc, ba ba, đồi mồi
Rùa vàng, cá sấu, gà lôi
Gấu non, khỉ độc, trò vui thiếu gì ?
Trại Hàng hoa, cảnh ly kỳ
Cổ mộ Lê Chất (14) thị phi tiếng đồn
"
Hậu quân" chém chết đem chôn
Tấm thân vùi dập chẳng còn ai hay
( ...........................)
Nghĩ buồn thời thế vần xoay
Vẩn vơ chân bước đó đây xa gần
Ra Hàng Áo Cũ, Vải Thâm
Qua Đình Hàng Bút, Hàng Cân, Hàng Phèn
Tạm Thương, Hàng Trống, Hàng Kèn
Hàng Bồ. Hàng Thiếc, Lò Rèn,
Cổng Ô (15)
Hàng Dầu, Thợ Ruộm, Hỏa Lò
Hàng Thùng, Cầu Gỗ, Bờ Hồ, đứng xem ..
. Quanh hồ tơ liễu rủ rèm
Trăng soi đáy nước, sen trên mặt hồ
Chiều thu gió gọi hồn thơ
Khách" Chương Đài" hỏi bây giờ còn ai?
Nhà Thủy Tạ mái Đông Tây
Á , Âu hội ngộ tỉnh say cuộc đời
Khách du tứ xứ tới chơi
Men nồng hương ngát vui cười trăng hoa
Đường" Beauchamp", nhà Chánh tòa
"Mouché" chánh nhất trưởng tòa áo đen
Nhân khi tản bộ giải phiền
Bất ngờ gặp lại bạn hiền thuở xưa
" Nguyễn Khánh Toàn" (16)cũng ngao du
Mặt nhìn rõ mặt còn ngờ chiêm bao
Đôi bên ôm chặt lấy nhau
Bõ công chờ đợi bấy lâu đến giờ (1927-1946)
Hàn huyên tâm sự chuyện trò .
Thì thầm to nhỏ nhỏ to vui cười
Nam Kỳ từ thuở chia phôi
Sau ngày Truy điệu là thời bể dâu
Tại Khám Lớn lại gặp nhau
Kẻ thời đào tẩu, người hầu ra khơi
Nhạn hồng bay tít xa vời .
Bấy giờ son trẻ, nay thời già nua
Mái đầu tuyết phủ sương che
Bèo mây hợp mặt vội chia tay liền
Hợp tan tan hợp triền miên
Giang hồ nặng kiếp con thuyền ngược xuôi
Đền vua Lê lúc tối trới
Hoàng hôn che lấp bóng người tang thương
Cột cao mờ mịt gió sương
Tượng vua Lê, đá bền gan mặt duềnh.....
( .................)

(4): Lãng Bạc:( Hồ Tây bây giờ) xưa là nơi Hai bà Trưng giao chiến với  quân xâm lược Mã Viện (  Chú thích: Mai Lâm - Nguyễn Đắc Lộc-  từ số  4 , đến số 15  )  .

(5): Nhịp chày Yên Thái : tiếng giã bột làm giấy của làng Bưởi ..

(6):   Chiêu Lỳ: tên thật Phạm Đan Phượng , tức Phổ  Chiêu  Thiền sư Phạm Thái - tác giả bài" Chiến tụng Tây Hồ", bài này làm để đối chọi với" Tụng Tây Hồ" của Nguyễn Huy Lượng ca tụng  Nhà Tây Sơn.

(7)   giấc Nam Kha :  giấc mộng về công danh lớn

(8)    Đình Cổ Lương: ở phố Hàng Than -Hồng Phúc, nơi chứa bần nhân, hành khất . Ca dao có câu: " may ra thì hóa Tứ Linh  / chẳng may thì lại nằm Đình Cổ Lương" ( chỉ bọn cờ bạc, được thì phất to; thua đi ăn mày, nằm  ở Đình Cổ Lương. 

(9):    Bến Bồ Đề ; bên sông ở Gia Lâm . Trẻ con xưa có câu:"Nhong nhong ngựa ông đã về / cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn " .

(10):   Hai Tây: một nhà làm xiếc  rong thường hay biểu diễn ở bến xe điện trước ga Bờ Hồ. Cuộc sống lang thang của Hai Tây, như  kiều Sơn đông mãi võ, chỉ thiếu con khỉ để phụ làm trò mà thôi.  Dân Hà Nội vào thập niên 20, nhất là trẻ con,  thích  Hai Tây lắm.  Một hôm,  tôi (N.Đ.Lộc) cùng ở Gia Lâm về khuya, khoảng 11 giờ đêm, gặp Hai Tây, anh kể chuyện anh ta đánh nhau với Ma cho  nghe. 

(11): Bắc Kỳ trước tiên,  xây dựng lớn lao, hoành tráng, với mục đích để thu phục nhân tâm , hay hơn dùng vũ lực. Ông yêu cầu thầu khoán Eiffel lừng danh ,đã từng  xâ

Viết bởi vietvanmoi, 10 April 2010 02:29 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

TÔ DUY KHIÊM ÁO HOA VÀNG


 









TÔ DUY KHIÊM

ÁO HOA VÀNG



    Áo mới chiều nay áo mới tinh
    Nắng xua bóng áo gợn bao hình
    Tung tăng trong nắng mừng áo mới
    Khoe áo con cười nét nguyên trinh

    Áo mới hoa vàng trong nắng mới
    Xôn xao bước nhỏ nhẹ hơi sương
    Giá như không biết hoa vàng áo
    Lộng lẫy áo hoa con đến trường

    Nắng tràn ngập phố mừng áo mới
    Con bước chân vui – bước ngập ngừng
    Không ai nhìn con khoe áo lạ
    Đôi mắt con buồn – như bỗng dưng

    Lặng nhìn áo mới hoa vàng tươi
    Vạt tóc hương hoa phủ ngập đời
    Tuyệt khúc hoan ca lời ánh mắt
    Rộ vàng hoa áo nở trong tôi

    Con mặc áo mới chỉ một ngày
    Hôm sau đem áo cũ ra thay
    Áo xanh đã bạc thương màu cũ
    Lặng lẽ con buồn áo lạt phai

    Áo xanh đã cũ cùng năm tháng
    Xuân hạ thu đông đã mấy mùa
    Áo cũ thay mày nay đã lạ
    Đâu còn màu cũ áo xanh xưa.

    Áo lụa hoa vàng con cất đi
    Không đem khoe áo, áo đang thì
    Đường xưa đón áo xanh phai lợt
    Nhớ áo ngày nào lệ ướt mi.

    Nhẹ gòt lung lay áo bạc màu
    Ta nhìn con bước áo lao xao
    Chiều thu gió thổi lùa thân áo
    Dáng nhỏ thương con phận má đào        
 


    TÔ DUY KHIÊM



    © Tác Giả Giữ Bản Quyền
    Cập nhật ngày 09.04.2010 nguyên bản của tác giả do Vũ Uyên Giang chuyển .
    . Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com 

    Viết bởi vietvanmoi, 09 April 2010 14:00 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

    THƠ VŨ ANH SƯƠNG





    Ảnh của congngheso.info

























     
     
     
     
     
     
     
     
     
     


    ĐỒNG CẢM


    Tặng tk dịch giả Thích Thiện Sáng.

    Cảm thương ngài lục tổ Huệ Năng
    Mười lăm năm sống cùng bọn cướp
    Nguy hiểm khôn nề bao khó khăn
    Súp thịt chung nồi, ăn rau luộc
    Tai ương, Phật lẫn cùng chúng sanh
    Ngọc đá vàng thau ai biết được
    Giải thoát hương bay về Tào Khê
    Đốn ngộ truyền lưu tuôn dòng nước.


    NỐI VÒNG TAY LỚN


    Bửa củi là diệu dụng
    Xách nước ấy thần thông
    Huệ Năng
    Lượm thóc là hoán vũ
    Thổi lửa ấy hô phong.
    Huệ Sương


    DÂN VIỆT NAM


    Có những đêm Giao thừa
    Đóng cửa phòng nằm khóc
    Người công nhân thêu thùa
    Nhớ quê nhà xa lắc.

    Dân Việt Nam khó, nghèo mạt rệp
    Cả một đời rách áo, đói cơm
    Xót trưởng giả học đòi qúy tộc
    Biến đất màu thành những sân
    “gôl”!

    Người nông dân giờ không có đất
    Hạt lúa vàng rẻ chẳng ai mua
    Đất nước quá nhiều sân
    “tơ nít”
    Quá nhiều dân
    quý tộc quê mùa.

    Về thành phố biết làm sao sống
    Người nông dân quen với cấy cày
    Giàu bán đất là
    giàu ảo mộng
    Cuộc sống còn mù mịt tương lai.

    Có những buổi trưa hè tôi thấy
    Những bé thơ đói lả ngoài đường
    Những bà mẹ mỏng như tờ giấy
    Xấp số dầy xuôi ngược thảm thương.

    Có những sớm mưa dầm tôi thấy
    Người bán rau ướt đẫm bùn sình
    Người vừa mới bước lên từ ruộng
    Mắt thâm quầng trong cuộc mưu sinh.

    Có những tối đồng tràn rét mướt
    Đài loan tin người chết hè đường
    Xuân mãi vẫn là điều vô phước
    Bởi đói nghèo nào có mùa Xuân?!

    Dân Việt Nam hiền hòa chơn chất
    Sống tin yêu chan chứa tâm hồn
    Nghe Tết đến vô cùng sợ hãi
    Như ruộng đồng sợ hãi sân
    “gôl!”.

    Sg.09









    © Cập nhật ngày 09.04.2010 nguyên bản của tác giả gởi từ Tây Ninh .

    Viết bởi vietvanmoi, 09 April 2010 13:58 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

    Tuyển Thơ Triệu Từ Truyền Collection of Poem Chuyển ngữ Nguyễn Thị Bích Nga





    Tuyển Thơ Triệu Từ Truyền
    Collection of Poem
    Chuyển ngữ Nguyễn Thị Bích Nga
    Tranlation Nguyễn Thị Bich Nga
    Chịu trách nhiệm xuất bản - Publishing authority
    NGUYỄN MINH NHỰT
    Biên tập - Editor
    TRẦN HỮU
    Trình bày – Designer
    ĐÀO HIẾU
    Tranh bìa - Cover
    NGUYỄN TÔN NHAN
    Sửa bản in - Printing Corrector
    QUANG HUY &BÍCH NGA
    Nhà xuất bản TRẺ
    TRE Publishing House

    ĐOÀN VỊ THƯỢNG


              Như  phần đông các nhà thơ  tài năng khác, Triệu Từ  Truyền bắt đầu làm thơ  từ độ tuổi 14-15, và  vẫn gắn bó với thơ  cho đến nay, khi anh đã tròn 60.  Boris Pasternak có lần thốt lên một tiếng kêu bi tráng: Sống đến tận cùng đâu phải chuyện chơi  ! làm tôi liên tưởng đến việc làm thơ của Triệu Từ Truyền để muốn đổi câu nói ấy thành: Làm thơ đến tận cùng đâu phải chuyện chơi ! Ấy bởi vì, theo tôi hiểu, Pasternak muốn nói sống đến tận cùng không có nghĩa sống lâu mà là sống tràn trề, hết mình, đi cho đến cùng thân phận người của mình. Thế thì đối với thơ ca, Triệu Từ Truyền cũng có thái độ như thế - không chỉ muốn làm thơ mãi mãi, anh còn muốn tát cạn cho đến cùng những gì uyên áo thâm viễn nhất chứa đựng trong mỗi bài thơ mà anh chính là người tạo tác. Hình như cái "bản năng gốc" này đã chi phối anh suốt đời, cho nên, trước và sau, xưa kia và bây giờ, những gì anh viết ra cũng chỉ đều là một - một trong suy tưởng, cảm xúc và một trong cả cách thể hiện - hay như ta thường gọi, đó là sự nhất quán trong giọng điệu và bút pháp. 
               Mấy năm gần đây, trong những bài tổng kết sáng tác của những cây bút học sinh sinh viên (1960-1975) đều xác định Triệu Cung Tinh, chính là Triệu Từ truyền sau này, xuất hiện khá sớm cùng với Trần Quang long, Ngô Kha, Đông Trình, Tần Hoài Dạ Vũ, Lê văn Ngăn…

        

    Thơ ca tranh đấu thường lấy bối cảnh chiến tranh, đầy khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước làm đề tài trong thơ, nhưng Triệu Từ Truyền đã âm thầm cho thấy anh có giọng điệu khác với đa số những người làm thơ thuộc thế hệ mình. Tôi dùng chữ “âm thầm” là vì - cũng khá dễ hiểu, thơ anh vốn kén người đọc, và do tác giả của nó đang tham gia hoạt động bí mật ở bên phía không cầm quyền, nên càng ít có điều kiện “lộ diện”, đăng tải công khai trên các sách báo miền Nam lúc bấy giờ. Tập thơ Đêm Lên Cơn Dài xuất bản 1965 tại Sài Gòn với bút danh Triệu Cung Tinh đã gây được tiếng vang ở cả hai phía, vừa thể hiện tinh thần tranh đấu của một thanh niên xả thân vì nước, một thủ lĩnh của phong trào học sinh sinh viên đô thị: Những thằng con trai 18,20/ đã đứng dậy khi bao người ngã xuống/……./lũ nó để lại một bờ đê xương máu/ ngăn cõi đời cuồng vọng cơn đêm/ mà nước lũ hôm nay/ vào cánh đồng thế kỷ ( Tâm Trạng-12/1964), vừa phơi bày nỗi dằn vặt của một cá thể có ý thức, chứ không làm thơ như viết khẩu hiệu. anh gắn lên môi điếu thuốc chưa đốt/ vì không hộp quẹt/ nhưng có dòng khói từ trong mũi bay ra/ đó là khói của trái đạn cay/và giọt máu hồng/trên đầu điếu thuốc của anh…. (Nghĩ tới em-11/1964). Bài thơ ngắn này anh viết tặng một nữ sinh bị đánh đập giam cầm sau khi tham gia biểu tình chống nhà cầm quyền đàn áp tự do tín ngưỡng và thiết lập nội các chiến tranh trong thập kỷ 60 ấy, đã chứng minh Triệu Từ Truyền làm mới thơ, khác biệt với phong cách thơ của phong trào thơ mới thập kỷ 40 và cả về sau nữa.  

     

    Thơ  ca không phải là những lời  “năn nỉ”, nó là  lương tâm của thời đại. Cuộc chiến rồi sẽ lùi xa, những lời “năn nỉ” – dù rất có ích - cũng ngưng vang rền, chỉ có “lương tâm” là còn đánh động mãi không thôi. Thơ ca luôn có những “đấu tranh” khác trong nó, đó là sự tìm đến vẻ đẹp, triết lý sống, nỗi băn khoăn nghìn đời của con người về thân thế của nó trong lòng một nhân loại chung, một trái đất chung, thậm chí một vũ trụ chung.Sông Bến Hải là vết đau chia cắt Bắc Nam thời  đó, có nhiều cách bày tỏ nguyện vọng thống nhất tổ quốc, riêng Triệu Từ Truyền chỉ nói: Tôi muốn được chôn trên sông / Để quên chia cắt ( Hai tôi - 1964). Tả những đứa trẻ nạn nhân chiến tranh, anh vừa nói được nghĩa đen và cả nghĩa bóng, hệt như một bức tranh của Picasso: Từng cặp mắt trẻ thơ ngước lên / Rụng khỏi khuôn mặt / Rơi xuống lòng bàn tay anh (Bên trong hy vọng - 1965). Cảnh báo thảm họa chiến tranh, từ Việt Nam, anh vẽ ra hậu chiến tranh, cho cả hình hài nhân loại mới: Tôi nhồi cục những mả mồ / Nắn thành trái đất mới cho loài người (Trái đất mới - 1965). Có vô số những câu thơ, bài thơ Triệu Từ Truyền viết theo thi pháp riêng có của mình như thế.Do vậy, nên thơ anh còn bị dè chừng, có người thích tinh thần đấu tranh trong thơ anh, nhưng chưa chấp nhận phong cách sáng tác đặc thù, hoặc cũng có người thích ngược lại. Đó không phải là sự thiệt thòi cho bản thân anh, đó là sự thiệt thòi cho thơ.   

     

    Người chiến thắng đã xuất hiện, kẻ  thua trận đã lánh đi, nhưng thơ  Triệu Từ Truyền không khải hoàn cũng không lánh nạn, nó tiếp tục làm cuộc di trú  đâu đó, trong lòng bạn đọc công tâm vì dòng chảy luôn mới của văn học.. Và như thế, như một sứ mệnh được trao truyền, anh vẫn phải tiếp tục sáng tác, tìm kiếm những người-đọc-tri-âm của mình, những người biết nhìn sâu vào lòng mình nhiều hơn là nhìn vào những xôn xao thu hút của cuộc đời. Có phải chính vì thế mà sau khi thống nhất đất nước (1975), Triệu Từ Truyền vẫn cứ hồn nhiên mà làm thơ với những Mảnh vỡ hồn nhiên, vẫn dật dờ đời mình mà viết Dật dờ trong sương, vẫn rỗng rang tâm hồn như hư không mà viết Va chạm hư không (tên các tập thơ xuất bản sau 1975 của anh). Chính cách thế ấy càng làm lộ rõ hơn chất thơ của Triệu Từ Truyền. Anh thiên về nghiền ngẫm, triết lý, và cho ta thấy thơ ca có thể đứng cao hơn mọi cuộc chiến tranh. Chiến tranh nếu có trong thơ thì đó chỉ có thể là cuộc chiến trong chính nó, tự cải tạo, hoàn thiện mình.  

     

    Chất "tranh đấu" trong thơ anh ngày nay không còn là sự tìm kiếm hòa bình, thống nhất cho một quê hương nữa mà là cho nhân phẩm và giá trị nhân bản của toàn xã hội, và ở mọi nơi nơi. Không dừng lại ở sự thống nhất cho địa dư xứ sở một thời, anh còn muốn tìm tới sự liền lạc mãi mãi giữa mọi tâm hồn người.Trong trường hợp này Triệu Từ Truyền khá giống Trịnh Công Sơn trong âm nhạc. Người nhạc sĩ thiên tài này cũng đã từng “đơn ca” giữa những “hợp ca tranh đấu” lúc bấy giờ. Ông đã và mãi còn đi tiếp cho những đơn-ca-tranh-đấu khác trong lòng một đất nước, một nhân loại còn bất toàn chứ không “ngủ yên trên chiến thắng”. Mặt khác, ở loại nhạc trữ tình, Trịnh Công Sơn vẫn sáng chói bên cạnh các đồng nghiệp tài năng Phạm Duy, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên…. Thì cũng thế, ngoài thơ tranh đấu, Triệu Từ Truyền trong thơ tình, thơ đời cũng vẫn có thể sánh vai với những Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Nhã Ca… một thời. Nhưng, như đã nói, anh đứng hẳn một bên (chứ không “trốn lính” tại chỗ như Trịnh Công Sơn) nên không được nêu tên chính thức trong văn học sử miền Nam trước 1975, song vẫn “âm thầm” đi bên họ, trong cõi thơ bền bỉ của mình.  

     

    Gần đây nhất, Triệu Từ Truyền lại ra mắt tập thơ Mặt cắt cõi ngoài . Với tập thơ này, anh lại đang tiếp tục thốt lên lời hứa - hay là lời than - : Đâu phải chuyện chơi trong việc làm thơ đến tận cùng ! Thơ ca lại cuốn hút anh đi mãi trên đường, hệt như năm bậc thang sinh-lão-bệnh-tử-sinh trong triết lý Đông phương, gập ghềnh mà trôi chảy miên man anh liên tưởng trong một lần đến nhìn ngắm những vẻ thiên nhiên hoang sơ ở vùng đất Cát Tiên : Đoá lan rừng bừng tỉnh sớm mai, thoả mãn trước sức công phá của tê giác sau đêm nguyên sinh. Năm bậc thang sụp xuống chìm ngập trong đầm nước ngọt ngào, nổi lên cột đá linga dính chặt vào phiến thạch yoni / Bắt đầu sinh sôi và kết thúc cũng sinh sôi (Cát Tiên ca - 2001).  

     

    Ứng vào anh, con đường thơ của Triệu Từ Truyền cũng: Bắt đầu sinh sôi và kết thúc cũng sinh sôi ? Người thơ này không có tuổi. 



    ĐOÀN VỊ THƯỢNG



    © Tác giả giữ bản quyền.
    . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 09.04.2010.

    Viết bởi vietvanmoi, 09 April 2010 13:56 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

    HÀ NỘI 100 NĂM TRƯỚC DI CẢO VÈ của MAI LÂM NGUYỄN ĐẮC LỘC



























     

     

     

    HÀ NỘI 100 NĂM TRƯỚC
    DI CẢO VÈ

    của
    MAI LÂM
    NGUYỄN ĐẮC LỘC



    Nhân dịp chào mừng 1000 năm Thăng Long (Hà Nội), Thế Phong & Từ Vũ Newvietart trang trọng giới thiệu với qúy độc giả tác phẩm di cảo của cụ Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc với mong ước tên tuổi và tác phẩm của cụ không bị rơi vào quên lãng, hoặc  có thể "bị chiếm dụng một cách bất đắc dĩ".

    Newvietart.com
    Pháp 08-04-2010

     

    Lời dẫn: Xin nói rõ, có hai người trùng bút danh từ thời tiền chiến đến nay ký Mai Lâm. Một người làm thơ tặng rau sắng chùa Hương cho Tản Đà , là Mai Lâm có tên thật Đoàn Văn Thăng sinh ở Bắc Giang ( Bắc Việt) ( 1915-1993 Saigon). Ông  Mai Lâm( Đoàn Văn Thăng)   làm thơ khóc lầm Tản Đà qua đời- trong khi Tản Đà  đang rung đùi uống rượu, ngâm thơ, trả lời Mai Lâm_ Đoàn Văn Thăng: " Nực cười cho bác Mai Lâm / Thương nhau chi sớm mà lầm khóc nhau ". Nữ thi  sĩ Đoàn Ngọc Kiều Nga là con  gái  thi sĩ Mai Lâm-Đoàn Văn Thăng  ( đã qua Huê  Kỳ,  và là  vợ  cố thi sĩ  Trần Thúc Vũ).
    Còn trong bài này: Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc (1897- tự tử  trưa 30/4/1975 ở Saigon) ,sang Pháp từ đầu thế kỷ XX, cộng tác  viên  chủ lực báo" Việtnam Hồn"  của Nguyễn Thế Truyền xuất bản ở Paris  đầu thế kỷ XX , tác giả tiểu thuyết " Bông sen trong bùn"(Hà Nội 1954), chủ nhiệm báo  Tân dân (  từ 1948 ở Hà Nội, và  Saigon sau 1954) - tác giả  di -cảo -vè HÀ NỘI 100  NĂM TRƯỚC- bản thảo hiện đang  được lưu trữ tại một thư viện ở Hà Nội.
     
    Sinh năm 1897, qua đời  1975 tròn 78 tuổi- người vuốt mắt cho ông là  phu nhân; và  cô con gái duy nhất, vợ  giáo sư Nguyễn Xuân Kỳ (trưởng nam bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ) đã di tản.
    Thời kỳ này tôi cũng ít lui tới nhà ông, không như năm 1964- hai chúng tôi làm cuộc du ngọan ngắn ngày lên Đà Lạt, trước khi đó dừng lại ở Tùng  Nghĩa.Tôi không quên tối hôm ấy,  ông Lộc gõ cửa nhà một bạn quen- vợ chủ, cô Ba ra mở cổng.  Ông Lộc đưa tặng chủ nhà cuốn bút ký lịch sử'
    Sau hai mươi năm"
     
    . Người viết giới thiệu, một  tác giả trẻ 32 tuổi, khách đồng hành  tác giả;  đáng lý cuốn này có  bài" tựa"  của nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền ( từng ứng cửa trong một liên danh tranh chức Tổng thống Việtnam Cộng Hòa) .
     
    Nhớ lại trước ngày Tổng thống Diệm bị lật đổ vào năm 1963, tôi góp ý với ông Lộc, cuốn này nên có  lời" tựa' của ông Nguyễn Thế Truyền là hợp lý  nhất. Lúc này ông Truyền ở nhờ nhà ông Phan Khắc Sửu (  từng  là Quốc trưởng Việtnam Cộng hòa)  ở  khu chợ Bàn Cờ . Hàng ngày ông Truyền dạy tiếng pháp cho một số học sinh  để àm  phương tiện độ nhật.  Khi tôi tới rủ ông tới quán cà phê Năm Dưỡng ( đường Nguyễn Thiện Thuật, Saigon 3) mới ông viết giới thiệu,  hay đúng hơn viết  " Lời Tựa" cho cuốn bút ký lịch sử" Sau hai mươi năm" của  ông Lộc.  Ông Nguyễn Thế Truyền khước từ  , và một mực: " Ông viết giới thiệu là hợp lý nhất, bởi ông đứng đầu nhà xuất bản in cuốn này". 
     ( sau 1975, tôi trở  lại  quán  cà phê Năm Dưỡng , vẫn ở  đướng Nguyễn Thiện Thuật- nhìn lên tường , bắt gặp  "Giấy Khen "tặng  chủ quán Năm Dưỡng , cán bộ địch vận) .
     
    Nhớ lại rất nhiều lần đi uống cà phê với ông  Truyền- từng có  huyền thoại phò mã vua Bỉ,  tiếp là  huyền thoại  ông  Truyền từng giáng mấy cái bạt tai  tổng đốc Vi Văn Định tại bến đò Tân Đệ ( Thái Bình) vv....
     Tôi nhớ lại những lần  đi uống cà phê với ông, thì ông Truyền không lần nào cho tôi trả tiền.
     
    Trở lại đêm ngủ trọ đầu tiên ở Tùng Nghĩa, ông Lộc nói chuyện với chồng cô Ba - còn cô Ba lại bắt chuyện với tôi, người cùng  trạc tuổi- khiến chủ nhà đưa mắt dè chừng.  Hôm sau chúng tôi lên Đà Lạt, ông Lộc nói :
    - ... may quá chúng ta chỉ ở đây một đêm, chứ ở lại i tới đêm thứ hai  chắc gì chủ nhà niềm nở tiếp đãi!
    Tới Đà Lạt, ông Lộc đưa đến nhà một người bạn khác của ông-  chủ một biệt thự trệt rất đẹp, nằm lọt thỏm trên triền đồi gần chùa Linh Sơn.
    Rong chơi khoảng một tuần lễ, chúng tôi trở lại Saigon.
     
    Mai  Lâm-Nguyễn Đắc Lộc, tác giả truyện dài" Mộng Xuân" hay" Bông sen trong bùn"  xuất bản ở Hà Nội 1954:
     
    "...Lới viết truyện của ông thuộc loại" văn dĩ tải đạo", lồng trong khung cảnh cải cách xã hội, qua nhân vật truyện.  Tác giả không mấy chú ý tời tình tiết, tâm lý nhân vật. mà tác gỉa chỉ có một mục đích lên án xã hội bị thống trị  thanh niên sống không có lý tưởng, thả lỏng mục đích đấu tranh cho dân tộc tồn vong; họ sống vì cơm áo, vợ đẹp, con khôn.  Theo tác giả, muốn đạt mục đích này,  thanh niên chỉ còn cách vùi đầu trong con đường cam chịu làm nô lệ.  tác giả đưa ra một nhân vật có lý tưởng trong đám thanh niên : Việt Hùng nêu gương cho cuộc đấu tranh giành độc lập.  tác giả, một nàh cách mạng mà chưa là nàh văn, nên bút pháp, văn phjong, cũng như kỹ thuật, dàn dựng nhân vật truyện chưa đạt.  Phải nói cho đúng, " Mộng Xuân " là cuốn biên khảo đường lối đấu tranh, qua cách diễn tả bằng văn chương, tiểu thuyết  chưa thành công.." (*)
    ----
     (* Nhà văn hậu chiến 1950-1956 của Thế Phong , Đại Nam văn hiến xb, Saigon 1959).
    -----
    Tôi không ngờ tác giả còn một di-cảo-vè, ban đầu có tựa"
    Nhớ Hà Nội", viết xong từ năm 1972, sau giao lại  cho ông Giang Kim-,-Nguyễn Thế Bình cất giữ. Nhờ đó, tôi được đọc qua, bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm viết" tựa" năm 1973.   Bản thảo  đổi  tựa mới" Hà Nội 100 năm trước", và di  cảo này, ông Giang Kim gửi  1 bản , nhờ  ông Vũ Đức Tiến ( Việt kiều Mỹ)  chuyển tới  bà Nguyễn Thị Liên, con gái tác giả, hiện sống ở Huê Kỳ. 
     
     "
    Hà Nội 100 năm trước " ghi chép về người, cảnh vật, danh lam  bối cảnh Đông Đô, từ đầu thế kỷ XX đến thập niên 50- phản  ảnh sự sống một thời các danh nhân, sĩ phu Bắc Hà, của một Hà Nội xưa. Nay, thật rất xưa, xưa không cũ không cổ- vì sự sống cũ và cổ đã rất linh động bước vào lịch sử rồi.
     
    Tác giả từng là cựu học sinh
    Trường Bưởi ( Lycée du Protectorat)  niên khóa 1915-1918.Từ năm 1920 đến 1926 , thư ký  Sở Vô tuyến điện thuộc phủ Toàn Quyền Đông Dương.  Cuối 1926,  ông bỏ việc  qua  Paris, viết báo" Việt Nam Hồn"  của Nguyễn Thế Truyền, ký bút hiệu Nguyễn Càn Khôn. Năm 1927, về nước lại,  viết  báo pháp ngữ, như : " L'argus Indochinois", " L'Ami du Peuple"," Oeuvre Indochinois" vv.. Cùng chủ trương báo" Union Indochinoise "với nhà báo nổi tiếng Vũ Đình Dy vào 1935.  Năm 1948,  chủ nhiệm báo" Tân dân" ở Hà Nội,  tới năm 1954 tiếp tục xuất bản ở Saigon- tờ báo này bị chính quyền hồi ấy tổ chức đập phá, đốt nhà in,  đóng cửa, đe dọa.
     
    "...Nhờ đọc thiên hồi ký đó ( Hà Nội 200 năm trước) mà tôi ( bs  Nguyễn Hữu Phiếm)  nhớ lại như mới hôm qua - hình ảnh của Hai Tây, một tay làm xiếc rong khắp Hà Nội-nhất là ở bến ga, xe điện Bờ Hồ, với biệt tài " đóng đanh lỗ mũi" , nuốt" Thạch Sùng"... Ngay cả đến những chị em dưới xóm, như Khâm Thiên, Vạn Thái, Hàng Giấy, tác giả cũng nhớ tên, như " đào Hoàn"," đào Nhạn".. hoặc tên của các" me tây làm đĩ lên bà" , như: " Bét Ti" ( mà ta thường gọi chếch là Bé Tí)," cô Tư Hồng"; hay tên của những kép hát "Quảng Lạc", " Sán Nhiên"  cũng được tác giả nêu đích danh.tác gàả cũng không quên những tay đua xe đạp nổi tiếng của những năm 1920, như " Mégy"," Bổng", " Cống"," Bernard"- những người này được coi như thần tượng của giới thể thao Hà Nội; hoặc tên của những võ sĩ Việtnam, như" Hàm Bái"," Cử Tốn", khi chưa  ai biết môn" Quyền Anh"  là gỉ?
    Cụ Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc hồi trẻ, tất phải là một " thể tháo gia" , một trong những phong lưu , công tử, một con người lịch thiệp, quảng giao... có như thế mới biết, và tận tường đủ dạng người trong xã hội. Như vậy, từ sang đến hèn, giàu đến nghèo; vì chính Cụ  từng là nhân chứng lịch sử, nên thiên hồi ký của cụ mới có chân giá trị ( đích thực)!
     
     Có người sẽ hỏi sao cụ" Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc" lại biết quá nhiều như vậy ?  Riêng tôi, tôi không ngạc nhiên chút nào cả- tác giả không những là một ký giả kỳ cựu- mà cả ba phần Trung, Nam,Bắc -đều biết tiếng.
    Cụ đã từng viết báo và sáng lập ra hai tờ tuến báo pháp ( Effort, Union Indochinoise) với Vũ Đình Dy.
    Cụ cũng là hội viên Hội Đồng Thành Phố Hà Nội.
    Ngoài ra Cụ có chân trong " Đảng Cách mạng Phục Việt" ( sau sát nhập với nhóm" Việt Nam Hồn" của Nguyễn Thế Truyền, biến thành" Đảng An Nam Độc Lập" tại Paris ( Parti de l'Indépendance Annamite à Paris ).
    Đọc thiên hồi ký này, đến đoạn nói về Phạm Tất Đắc, một bạn học đồng khóa với tôi ( bs Phiếm) ở Trương Bưởi, tác giả bài" Chiêu Hồn Nước"- tôi không khỏi bùi ngùi khi thấy vì yêu nước, mà anh bị tù đầy, rồi chết yểu; hoặc nhớ tới Bùi Ngọc Ái  viết mục" Notre Objectif" dười đầu đề" La Retraite aux Flambeuax" trên tờ" L'Union Indochinoise". Cũng vì bài báo  này, tờ báo buộc phải đình bản vì nhà đương cuộc thời ấy ( René Robin sang làm toàn quyền, áp lực đình chỉ xuất bản tờ báo trên).
    Thiên trường ca hồi ký của cụ Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc (  " Nhớ Hà Nội"  được đổi  thành" Hà Nội 100 năm trước")  đáng được cho mọi người hoan  nghênh- vì đó là một tư liệu lịch sử rất quý giá.
     
    Cụ bảo tôi, cụ đã hoàn thành " sau hai năm mồ hôi nước mắt" ; tôi cho rằng:"cụ thành công rối đấy!".  Tôi thiết nghĩ, một đời người như Cụ- mà trong đủ mọi giới, trên khắp các lãnh vực, được ai nấy biết danh một chút , chỉ một chút thôi- cũng đủ cho ta vui khi tuổi già, nếu không muốn nói là mãn nguyện.
    Cụ Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc quả xứng danh là một  " cụ già gân" - với tất cả ý nghĩa cao đẹp của câu đó.
     
    Xuân Quý sửu, 1973.
     
    Bs NGUYỄN HỮU PHIẾM.
     
     
    Năm 1998 Sài Gòn kỷ niệm"
    300 năm- Hà Nội 980 .
     Vào  thời kỳ này, tôi  ao ước  tập di cảo  sẽ được xuất  bản thành sách.
     
    Nhớ lại năm 1996,  chị Ý Nhi, trưởng Chi nhánh nxb Hội Nhà văn tại tp. HCM  dự định xuất bản-  chị cho  nhập liệu vi tính. Ít lâu sau, chị  nói với ông Giang Kim, bản thảo"
    Hà Nội 100 năm trước"  gặp trở ngại.  Chị không cho biết lý do, sau đó , một vị có phương danh Văn Giá ( 1959-  ) ,từ Hà Nội vào, cùng quê Hưng Yên  với ông  Giang Kim-  đem bản thảo  về Hà Nội xin cấp phép xuất bản. Vài tháng sau, PTS Văn Giá cho biết chuyện lại  không thành.
    Cuối  cùng, ông Giang Kim-Nguyễn Thế Bình  đành gửi  bảo đảm  qua bưu điện ra Hà Nội, mong  di -cảo-vè"
    Hà Nội 100 năm trước "của Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc được lưu trữ tại" Thư Viện Quốc Gia, tọa lạc tại 41 phố Tràng Thi, Hà Nội" .
     
    Nơi đây nhận được, đã gửi một thư hồi âm- vậy là"
    Hà Nội 100 năm trước, di-cảo-vè  của ông Lộc  đã được lưu trữ ở đây - dành cho đọc giả  tham khảo- và ,tới nay,  chưa có  tín hiệu  nào   rằng  di cảo trên  được  in  ra nhân dịp  " Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội".....
     
    -và  bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm , người viết tựa di cảo kia,  từng ao ước:"  
    thiên trường ca hồi ký của cụ Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc ( " Nhớ Hà Nội"  được đổi thành" Hà Nội 100 năm trước"  đáng được cho mọi người hoan nghênh, đó là một tư liệu lịch sử rất quý giá...."
     

    (trích một phần  " CHIÊU NIỆM BỐN NHÀ VĂN SÀIGÒN:
       Vũ Hoàng Chương- Đinh Hùng- Tam Lang- Vũ Đình Chí & Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc)
    tác giả:  Thế Phong, nxb Đồng  Nai 1999).
     
     
     
    © tác giả giữ bản quyền.
    . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 06.04.2010.  

    Viết bởi vietvanmoi, 09 April 2010 13:54 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

    CÁNH BÈO PHIÊU BẠT của TRẦN MINH NGUYỆT
























    CÁNH BÈO PHIÊU BẠT




    TRẦN MINH NGUYỆT


                 Mới hơn 8 giờ mà làng Vạn Phúc trở nên im ắng lạ, chỉ có tiếng mưa rơi hòa lẫn với bản hòa tấu của côn trùng trời đêm. Bà Thanh vẫn ngồi lặng lẽ bên cửa sổ đôi mắt buồn ưu tư nhìn ra đầu ngõ, dù bà biết chắc Hạnh, con gái út của bà không thể về được vào lúc này. Đã 5 năm nay kể từ lúc Hạnh về nhà chồng bà mới cảm nhận hết nỗi cô đơn, sự vắng vẻ của cõi lòng. Bà có cảm nhận ngôi nhà trở nên rộng rãi và thiếu hẳn sinh khí. Rất nhiều lúc, trong nỗi cô độc, trong nỗi buồn kín bưng của mình- Bà không hiểu nỗi một người suốt đời sống cam chịu, khốn khó như bà- một người nhân từ, luôn sống tốt, từ nhỏ đến lớn không làm hại ai, ngay cả một con kiến  cũng  không nỡ giết nó- mà sao cuộc đời bà lại truân chuyên, khổ ải như thế này.? Phải chăng đó là món nợ mà bà đã trót vay từ kiếp trước và phải trả trong hình hài trần tục ở kiếp này.? 
                 Cuộc đời bà giống như một trang tiểu thuyết buồn. Cái số phận nghiệt ngã bắt đầu từ khi bà mới cất tiếng khóc chào đời. Một sinh linh bé nhỏ không hình dung được sự hiểm nguy đau đớn mà nó phải gánh chịu. Bà nghe người ta kể lại rằng: Ai đó đã sinh ra bà và bỏ bà dưới gốc Đa đầu làng - ngôi làng nhỏ nào đó ở Quảng Nam, mà giờ này bà cũng không biết tên, cũng như địa điểm của ngôi làng đó nữa. Một cặp vợ chồng người Hoa động lòng trắc ẩn, ẳm bà về nuôi cùng con trai mới sinh của họ. Sau này- bà được nghe dì tám Lưu kể lại. Không biết bà có khắc tinh với gia đình họ hay không mà kể từ khi đem bà về nuôi,gia đình của họ gặp hết cái xui này đến cái nạn kia.Người chồng thì mất việc, vợ bị tai nạn gảy chân. Đi xem bói thầy bói phán rằng: " trong nhà có người nữ số mạng lớn nên họ sẽ suốt đời không yên ổn được". Năm đó bà mới được 6 tuổi -bà chỉ nhớ mang máng là, Ba mẹ nuôi đã ôm bà vào lòng khóc và nói với bà là đã tìm được ba, mẹ mới cho con rồi. Lúc đó, làm sao bà hiểu hết được lời của cha mẹ nuôi –làm sao biết dược cuộc đởi mình lại sắp bước vào một cuộc hành trình đầy truân chuyên  của kiếp người? Bà chỉ cảm nhận được sự yêu thương của họ dành cho bà, vì họ khóc rất nhiều, và bà vì sợ hãi cũng khóc theo cha mẹ nuôi thôi .Rồi một buổi sáng dì tám Lưu đến nhà,và trưa hôm đó mẹ nuôi mặc cho bà cái áo đầm đẹp nhất, đeo vào tai bà đôi hoa tai bằng bạc. Ôm bà vào lòng hôn bà thật lâu, sau đó thầm thì nói gì đó với dì tám,- Kể từ buổi sáng chia cắt định mệnh hôm đó -bà không còn lần nào gặp lại cha mẹ nuôi đầu tiên nữa !  
                  Dì Tám Lưu nhà ở cạnh chợ Kỳ An,- ngày 2 buổi dì lo bán hàng ngoài chợ, tối mịt mới về nhà . Dượng Tám là một thầu khoán nên cũng ít khi có mặt ở nhà, đôi khi nhận thầu công trình ở nơi xa ,cả tháng Dượng mới về thăm nhà một lần. Bà Thanh lúc đó mới 6 tuổi được nhận về ở nhà giữ thằng cu An con của dì Tám -3 tuổi, và làm công việc nhà như nấu cơm, quét dọn. Thằng cu An được cha mẹ cưng chiều nên suốt ngày nghịch ngợm và không lúc nào chịu ngồi yên. Không chìu theo ý nó-không làm vừa lòng chuyện gì là nó vả vào mặt bà, hay ném bất cứ vật gì cầm được vào người bà rồi nằm dãy ra khóc la .Đã vậy- tối về nó lại méc với dì Tám là bà Thanh đã đánh nó khắp người. Thế là, vì quá thương chìu con- những trận đòn vô cớ mà bà Thanh phải chịu ngày càng nhiều. Thuở ấy-bà cũng lờ mờ nhận biết được thân phận côi cút lạc lõng của mình qua những câu chì chiết mắng chưởi của dì Tám. Mỗi tối , lúc dì Tám ru hát vỗ về cho cu An ngủ- bà nằm nghe những lời dịu ngọt của dì Tám , chỉ biết úp mặt vào gối khóc thầm. Tuổi thơ bà, đâu có được nghe những lời dịu dàng mặn nồng ấy? Năm bà Thanh 10 tuổi, dì Tám buôn bán ế ẩm lại bị huê hụi lường gạt hết vốn- nên ở nhà làm công việc nội trợ. Dượng Tám đã theo vợ bé ở trên phố họa hoằn lắm mới về thăm nhà một buổi!. Bà Thanh đã trở nên là cái thớt để cho dì Tám Lưu bằm văm ngày càng nhiều. Dì Tám đã đổ lên đầu bà Thanh tất cả nỗi buồn giận, khổ đau vì cảnh nhà sa sút, vì người chồng bạc bẽo… 
            - Tao không hiểu tại sao tao lại nhận mầy về nuôi làm gì? Mầy suốt ngày chỉ biết chơi và phá phách thôi, có giúp tao được gì đâu?. 
            -Mầy ám tao vừa thôi,sao mầy không chết quách khi mầy bị bỏ rơi, bị kiến đục mắt đi hả Thanh? 
            -Vợ chồng ông Tỷ cứu sống mầy là một sự sai lầm, phải trả giá gia đình li tán rồi.Nhưng tao không để mầy phá nát cái gia đình này đâu mày nghe chưa? 
             Bà Thanh ngồi nép vào một góc cửa,bà cố thu mình thật nhỏ, tránh đi cái nhìn nảy lửa của dì Tám. Nhưng tia lửa của lòng sân hận, u ám vẫn cứ xoáy sâu vào người bà như có trăm ngàn lỗ. Rồi chuyện gì đến cũng đến. Chiều hôm đó bà Thanh đang xách nước đổ lên bể để lọc nước dùng trong ngày thì nghe dì Tám gọi to- giọng đầy giận dữ: 
            - Thanh! mầy bỏ đó vào đây tao bảo 
              Bà Thanh sợ hãi len lén bước vào thoáng nhìn lên mặt dì Tám -bà hình dung một trận đòn sắp tới chắc sẽ đau đớn lắm, bởi nét mặt dì Tám đã tái sạm.. 
             - Mầy lấy trộm tiền của tao phải không? 
             -Dạ! Con thề không có lấy mà,.. Con xin dì nghĩ lại? 
             -Tối qua tao bỏ mấy cắc bạc ở đây, giờ không cánh mà bay? Nhà chỉ có tao với mày thôi. hay là mầy đổ tội cho thằng cu An? 
             Thằng An mới vừa ngủ dậy- làu nhàu, la to :"  Nó lấy đó má ơi, nó là một con ăn cắp, má đuổi nó đi đi" 
             Bà Thanh đưa tay quẹt lau nước mắt- giọng lí nhí : " Con xin dì, con không có lấy thật mà, con lấy tiền để làm gì…" 
               -Mầy đúng là đồ con hoang, tao không thể nào nuôi mầy được nữa. Mầy vào xếp đồ và ra khỏi nhà tao mau… 
             -Con xin dì, dì cho con ở lại, con không lấy tiền thật mà, con biết đi đâu đây dì ơi? 
             - Mầy đi đâu là chuyện của mầy, tao không phải mẹ mầy, và nhớ là đừng về đây nữa nghe không? Mầy về tao đánh gảy chân đó! 
             Bà Thanh hết lởi năn nỉ nhưng dì Tám vẫn làm ngơ bỏ đi- biết  không có lời nào có thể làm đổi thay dược lòng người đã cạn khô tình yêu thương- bà lầm lũi vào góc buồng ôm giỏ đồ bước ra cửa. Bà Thanh chợt ngoái nhìn lại- đôi mắt bà nhìn chầm chầm lên gương mặt trẻ thơ của cu An-lòng cảm thấy thương nhớ vô hạn. . Bà biết dược rằng, kêt từ hôm nay-bà sẽ không còn được gặp lại cu An lần nào nữa. Bà thấy thương nó-nhớ nó, như sắp rời xa một đứa em ruột thịt đã từng chung sống bao năm. Bà đi từng bước thật châm ra khỏi ngõ, thẩn thờ men theo đường quốc, nhưng cũng không biết những bước chân mình sẽ đi về đâu.?                      .        Những bước chân vô định cứ dẫn dắt bà –bà đi mãi-cắm cúi bước, nước mắt cứ tự nhiên chảy ràn rụa mà bà không thể lau khô được nữa! Chợt nhìn thấy một đám mía đường đã lớn phía bên kia dường- bà lặng lẽ đi sâu vào giữa đám - bẻ một cây- siết  ăn cho đỡ khát. Vùa mệt, vừa buồn đau- bà đã ngã lưng ngủ vùi luôn giữa đám mía từ lúc nào . Có lẽ nơi ấy-là chốn yên ổn , an toàn nhất cho bà? Mờ sáng hôm sau- tỉnh dậy-sau một thoáng bàng hoàng ngơ ngác- bà đã nhớ lại mọi chuyện vừa xảy ra cho đời mình buổi chiều hôm trước-bà lại tiếp tục rảo bước đi theo đường quốc lộ. Buổi chiều, bà đã tới thị trấn Nam An.    Trời bỗng đổ mưa nặng hạt- vừa đói, vừa lạnh, bà nép mình vào dưới mái hiên của một ngôi nhà đóng kín cửa. để tìm chút hơi ấm. 
                - Con gái! Sao giờ nầy còn nằm ở đây? Sao con không về nhà?- Nghe giọng nói rõ to gọi mình- Bà Thanh chợt thức dậy- ngước lên nhìn- người đàn ông trạc trung niên đang đứng trước mặt- nhoẻn miệng cười… Bà Thanh nói giọng lập cập như bị rét lạnh: 
              - Cháu xin ông cho cháu nằm nhờ đây- cháu không có nơi nào để đi nữa  Trời tạnh mưa, cháu sẽ đi ngay… 
              -Con vào nhà đi-người đàn ông mở rộng hai cánh cửa- nằm ngoài trời lạnh lắm biết không?

             Người đàn bà từ bên trong nhà bước ra của- thoáng nhìn chồng-rồi liếc nhìn Thanh với lòng dầy thương cảm : “ Con vào trong nầy đi! Mưa mùa này làm sao dứt được sớm mà chờ?

          Giọng nói trong trẻo, thân tình-dịu dàng của người đàn bà đã làm cho lòng bà bỗng nhiên như được sưởi ấm. Bà cảm thấy mình được tươi tỉnh lại.

       Sau khi nghe kể lại cảnh dời phiêu bạt côi cút hẫm hiu của bà Thanh,vợ chồng ông Trung- chủ nhà, đã sẵn lòng cưu mang, nhận nuôi bà từ đó.  
                Ông bà Trung đã có hai người con- anh Đại và chị Hương – bây giờ có thêm bà Thanh nữa.-  cả nhà như vui hẳn lên. Bà Thanh cảm thấy  cói lòng băng lạnh của mình được xoa dịu, an ủi-khi những ánh mắt nhìn bà đều thân thiên- gần gũi. Bà hòa nhập vào  cảnh sum họp của gia đình một cách tự nhiên-vui vẻ.  .          Ông Trung đang là Giao Sư của trường Trung học công lập  trong thị trấn – và bà Trung là y sĩ trưởng của một bệnh viện từ thiện  .Bà Thanh được cho ở chung phòng với chị Hương-cả nhà ai cũng yêu quý bà, xem bà như con, như em ruột trong nhà vậy. Tình yêu thương thật mầu nhiệm, chỉ trong vài hôm-bà Thanh đã tìm lại được niềm vui sống tưởng đã tắt lim ngay trong đám mía hoang vu bên đường. Hàng ngày bà chỉ làm những việc lặt vặt giúp cho bà Trung hay cô Hương-  còn những chuyện nhà đã có thuê người làm . Tối đến- ông Trung thường dành  một ít thời gian sau khi đọc báo, để dạy cho bà học Năm 15 tuổi- bà thi lấy được bằng tiểu học.Thời gan sau- Ba, mẹ nuôi đăng kí cho bà học lớp sư phạm  sơ cấp ấp Tân Sinh và từ năm 18 tuổi bà được phân về về dạy ở trường sơ cấp Nam Lộc gần nhà.Được đùm bọc trong sự trìu mến yêu thương, bà Thanh thường nhìn cảnh sum họp của gia đình ông bà Trung mà không ngớt mơ ước có được phút giây gặp mặt, gần gũi cha mẹ đẻ ra mình. Bà chỉ cầu xin được gặp cha mẹ bà-dù chỉ một lần thôi-để được nghe những lời thương yêu nồng ấm của cha mẹ dành cho mình. Nhưng có bao giờ ước mơ kia đến được với đời ba đâu-bởi vì-kẻ vô tâm bạc tình đã chìm khuát tận chân trời góc biển nào rồi? 
                Năm bà vừa tròn 20 tuổi- ba, mẹ nuôi đã chọn gả bà cho anh Hải- cũng chịu cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ như bà vậy. Hải dạy cùng trường với ông Trung- bậc đệ nhất cáp.. Mặc dù cuộc hôn nhân chỉ là mai mối, nhưng vợ chồng bà rất yêu thương nhau.Vợ chồng đùm bọc hủ hỉ làm ăn. Dù chưa được sung túc như mọi người- nhưng đó là thời gian hạnh phúc nhất của cuộc đời bà.  Khi Bé Hạnh chào đời , hai vợ chồng bà mừng vui vô hạn. Đó là kết quả của tình yêu thương của hai mãnh dời bất hạnh. Nhưng-thật bất ngờ và tàn nhẫn thay- cuộc đời lại một lần nữa cướp đi cái hạnh phúc nhỏ bé còn lại của đời bà.: Năm bé Hạnh 4 tuổi, sau một lần ăn tất niên nhà bạn,  Hải đã uống mấy li rượu rồi cảm thấy mệt , choáng váng vội xin phép  về nhà nghỉ.. Nhưng giấc ngủ mê ấy của Hải không bao giờ tỉnh dậy nữa. Anh không còn quây quần bên vợ con hằng đêm như bấy lâu! Anh đã đi xa-đã trở về với cát bụi phận người… 
               Hạnh  rất thông minh- học giỏi và là đứa con ngoan ngoãn luôn luôn biết vâng lời mẹ. Năm Hạnh thi đậu vào đại học Sư phạm- cũng là lúc cha mẹ nuôi của bà nối tiếp nhau ra đi. Hạnh tốt nghiệp- xin về dạy ở Trường THPT Bình An. Nhưng chỉ hai năm sau, cũng phải rời xa bà  theo chồng vì con rể bà là con một của một gia đình khá giả ở thị xã. Họ cảm thấy bị xúc phạm nếu để con về ở chung với phía vợ nên ngay từ lễ hỏi-họ đã từ chối yêu càu tha thiết của bà là cho vợ chồng Hạnh về chung sống…Sự giàu sang  đôi khi đã làm cho con người trở nên vô cảm… 
     

         Chuông điện thoại reo vang cắt đứt dòng suy nghĩ của bà Thanh. Bà bắt máy- nghe giọng nói của Hạnh bên kia đầu dây 
           -Má có khỏe không? Má đã ăn gì chưa? 
           - Má khỏe, con đừng lo- Giọng bà nhỏ, đượm buồn- Vợ chồng con thế nào rồi? 
           - Công việc thuận lợi lắm má à. Anh Thuận được đề bạt lên trưởng phòng, - năm nay con thi giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh đó má!

       Một thoáng im lặng… 
          - Anh Thuận sắp đi công tác ở Đà Nẵng, sẽ ghé về quê thăm má vài ngày. À !Bé Hiếu muốn nói chuyện với bà ngoại đây này, con chuyển máy cho nó nhé. 
           - Bà ngoại có khỏe không? Tiếng nói vừa tròn giọng của chú bé 4 tuổi thật ngộ nghỉnh, êm ái- Bà ngoại thương bé Hiếu nhiều không? Hiếu ngoan lắm, hè này ba mẹ hứa cho Hiếu về thăm ngoại. à nha… 
            Bà chưa kịp trả lời thì nghe có tiếng “ tút tút”. Chắc là thằng cháu 4 tuổi của bà đã gát máy rồi? Nó chỉ hỏi mà không cho người nghe trả lời? 
              Bà Thanh nghe được giọng nói ngây thơ của cháu, thấy rất ấm lòng. Lần nào cũng vậy-Hạnh đều cho bé Hiếu bi bô với bà ngoại vài câu- Ừ nhỉ- thì con bà có bỏ bà đâu?  Nó đang sống hạnh phúc thì bà cũng hạnh phúc mà. Hạnh phúc của bà bây giờ đều dành cho con cháu thôi- Bà chậm rải lại bàn thờ đốt nén nhang -chia sẻ niềm vui của bà với cha mẹ nuôi, chổng- và cầu xin cho tất cả được yêu thương, hạnh phúc … 






    © Tác giả giữ bản quyền.
    . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Bình Định ngày 09.04.2010.

    Viết bởi vietvanmoi, 09 April 2010 13:51 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

    CHUYỆN Ở MỘT NGÔI TRƯỜNG truyện ngắn MANG VIÊN LONG




























    CHUYỆN  Ở MỘT NGÔI TRƯỜNG 




    MANG VIÊN LONG


              Lão Mịch cầm chai rượu chuệnh choạng vói tay xô cánh cổng trường lảo đảo đi vào gần dãy phòng học đầu tiên-cất giọng hét to: “ Cô giáo ơi! Cô giáo…

    Tui cho nó nghỉ học chắc là cô ưng bụng lắm phải không? Tui cho nó nghỉ học cho cô vui mừng mà! Ha ha…”. Tiếng gào thét của lão giữa buổi học đang im vắng làm náo động cả khu trường- các phòng  học sinh đều nhốn nháo thò đầu ra dòm ngó, thè lưỡi cười : “ Lão Mịch say! “-“ Lão Mịch cha của thằng Thị kia mà!”.

             Anh Thư rời lớp, bước vội xuống mấy bậc cấp-đến đứng trước mặt lão Mịch như một bức tường-giọng dịu dàng: “ Mời bác vào văn phòng chờ cháu một lát-Cháu cũng đang muốn thưa chuyện với bác về việc em Thị nghỉ học mà!”- “ Tui không muốn nói chuyện với ai cả, tui uống đã rồi-tui quậy phá chơi rồi về ngủ…”. Lão Mịch ngước nhìn trừng trừng lên mặt Anh Thư-đôi mắt lão đỏ ngầu ti hí ẩn chứa bao điều u ám mà có lẽ Anh Thư không đủ kinh nghiệm để hiểu hết!-Lão cười gằn: “ Tui cho nó nghỉ học cho cô ưng bụng mà! Cô đã ưng bụng chưa? “ Dứt lời, lão quày quả quay lưng khập khiểng bước từng bước như dò dẫm trong đêm tiến dần ra phía cổng…

             Đứng nhìn theo lão đã rời khỏi cổng trường một đoạn xa  mà lòng Anh Thư vẫn chưa nguôi nỗi bàng hoàng, ray rức. Cô đứng yên như bị chôn chân một chỗ. Gương mặt ngầu đỏ của lão Mịch như nở to dần rồi méo lệch trong đầu nàng. Mắt dõi theo bóng lão đã khuất sâu sau lũy tre cuối xóm mà lòng nàng dường như đang bị bao phủ bởi bao chuyện cũ về lão Mịch, về Thi lại trở về khuấy động không yên?  Lời lão Mịch đã trịch thượng bỏ phòng họp phụ huynh chỉa thẳng vào mặt nàng hôm kia như đang  dội lại bên tai : “ Để rồi cô coi! Rổi ai sẽ năn nỉ ai cho cô biết tay tui?”.

              Hôm họp phụ huynh đầu năm-cũng là lần đầu tiên Anh Thư bước vào nghề sau 4 năm ở trường Sư Phạm-nàng đã nhiệt tình chuẩn bị chu đáo cho buổi gặp gỡ mà nàng nghĩ là sẽ rất ấm cúng thân tình, có thể giúp nàng hoàn thành nhiệm vụ năm học. Chỉ tiêu, kế hoạch đều được phòng và nhà trường quy định giao khoán sẵn rồi -không thể chậm trễ, thiếu sót-nó như một “ pháp lệnh” mà giáo viên phải tuân theo-không thể làm khác! Mọi đánh giá quyết định về tư cách, khả năng của giáo viên đều nằm gọn trong đó- không hề có ngoại lệ hay châm chướt.. Đó cũng là “ thước đo thành tích” dành cho mỗi giáo viên trong các việc khen thưởng, tăng lương, hay xét duyệt vào biên chế.của trường và phòng giáo dục. Cái “ thước đo” ấy thật khắc nghiệt và có phần cưỡng chế-bởi nó chỉ dựa vào “ thành tích”, vào phần trăm- dù từ ngài Bộ trưởng đến quý vị Giám đốc, Trưởng phòng, cả đến “ anh Tư” Hiệu trưởng vẫn luôn luôn nói đến chủ trương đổi mới “ ba không”-trong đó có việc chống lại “ bệnh thành tích”. Bệnh “ thành tích” thì chống, nhưng chỉ tiêu giao khoán thì không hề suy giảm, mà có phần gia tăng! Đối tượng vẫn thế, chỉ tiêu vẫn thế-nhưng phải “ chống” vào cái gì thì không ai chịu giải thích ? Nhiều lúc, đối diện với thực tế trong lớp, nàng nghĩ- đó như một toa thuốc cực hay nhưng chỉ là tấm giấy-không có thuốc để uống- không ai chịu uống thuốc cả? Lớp Anh Thư chủ nhiệm có nhiều trường hợp rất khó khăn đã gây trở ngại cho “ bảng chỉ tiêu” nhưng nàng đã bằng mọi cách xoay xở dần được trong tháng qua, trừ 2 trường hợp không thể giải quyết được.

             Buổi họp phụ huynh của lớp không đạt được một nửa, có nhiều vị chỉ đến nộp giấy mời cho cô giáo chủ nhiệm theo quy định cưỡng chế -rồi vội vã mất dạng. Anh Thư cảm thấy một nỗi buồn trống trải, cô độc- và chút gì như thất vọng đang dần nẩy nở trong tâm hồn mình! Cảm giác ấy như một tảng sương mù làm nguội lạnh sức nóng của lòng nhiệt huyết, sự cống hiến mà nàng đã mơ ước từ ngày chưa bước chân vào trường Sư Phạm.

             Các yêu cầu Anh Thư nêu ra trước phụ huynh là: 1. Thường xuyên nhắc nhở con em đến trường-học tốt. 2. Giứ quan hệ thường xuyên với cô giáo chủ nhiệm, 3. Góp ý xây dựng nhà trường, tập thể giáo viên-nhất là với cô giáo chủ nhiệm .4..Đóng góp các khoản tiền theo quy định. Ba mục đầu tất cả đều im lặng-ngơ ngác nhìn nhau-rồi đồng thanh “ Xin cho qua”-nhưng mục 4 đã có nhiểu tiếng xầm xì, không khí có vẻ căng thẳng-họ cùng  nhìn nhau chờ dợi người chịu đứng dậy đầu tiên để có thể bật lên tiếng nói của mình. Lão Mịch đứng phắt dậy, mặt đỏ ngầu-giọng sang sảng: “ Tui xin có ý kiến: Tui không có tiền nộp con tui có được học không? Yêu cầu cô giáo trả lời cho tui rõ?”. Bà Thanh giơ tay : “ Tui đã đưa tiền cho nó nộp rồi mà nó đi chơi game, đi uống ca phê hết trơn-tui không có tiền nộp nữa thì làm sao?”.Ông Tích ngồi phía cuối phòng- đứng bật dậy như một chiếc lò xo : “ Sau một trăm sáu chục ngàn đồng đây- cô giáo cho lũ tôi biết-còn nộp tiền nào nữa không? Chúng tôi là dân làm ruộng nghèo khổ, có được miễn giàm không? “.

              Sau hơn mười phút mời mọc phụ huynh cho biết thêm ý kiến-không có ai chịu đứng lên phát biểu- họ chỉ chụm lại nhỏ to về chuyện tiền bạc đủ thứ để cho con đi học- than thở về những tệ nạn ngày càng nhiều của dám học sinh lêu lỏng ngổ ngáo - rồi tặc lưỡi thở dài.. Không muốn kéo dài thêm giây phút nặng nề không  mấy vui ấy - Anh Thư xin phép trả lời các ý kiến.

             Nàng nói:

             - Thưa bác Tích! Sau khoản tiền thu đầu năm học đã thông báo lả một trăm sáu chục ngàn đồng đang tiến hành tồng kết, cháu chưa biết rõ là có còn khoản thu thêm nào vào giữa hay cuối năm học không? Việc này cháu sẽ trình lại ban giám hiệu-sẽ thông báo  với bác trong thời gian gần nhất. Về việc ‘ miễn giàm” các khoản thu đã được hướng dẫn hằng năm rồi-những gia đình có công , liệt sĩ, thương bệnh binh,và các hộ nghèo đã được chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận, mới được miễn hay giảm bớt thôi! Mọi trường hợp khác không cứu xét!

            Anh Thư bước lại gần chỗ lão Mịch- giọng nhỏ nhẹ : “ Về câu hỏi của bác, cháu xin thưa rằng-con bác vẫn được đi học, nhưng bác cố gắng đóng góp-có thể chậm trễ!”-Anh Thư thoáng nhìn lên gương mặt như có ngàn chiếc gai nhọn chỉa ra về phía nàng của lão Mịch-giọng ôn tồn: “ Thưa bác, cháu sẽ cho em Thị mượn tiền nộp cho đúng thời gian nhà trường yêu cầu-bác sẽ gởi trả lại cho cháu sau nhé? “. Lão Mịch âm ừ không đáp.

              Quay về phía bà Thanh-Anh Thư tươi cười: “ Cháu sẽ tạm ứng tiền nộp giúp cho thiếm-khi nào có dịp-cháu ghé nhà thiếm nhận lại cũng được. Trường hợp học sinh nhận tiền của cha mẹ rồi không giao nộp cho nhà trường là khá phổ biến- nên nhà trường không chịu trách nhiệm về những trường hợp này. Gia đình cần trực tiếp đến giao nộp cho giáo viên chủ nhiệm.”.

              Đã ba tuần lễ trôi qua-và ba lần Anh Thư nhắc Thị về xin tiền lão Mịch để hoàn trả lại cho nàng-thì Thị bỏ học mấy hôm liền.Vì bận rộn công việc kiểm tra giáo án của Sở nàng chưa thu xếp kịp để đến nhà động viên Thi đi học-thì chiều nay lão Mịch lại đến. Giao nộp tiền không đủ, trễ hạn-cũng sẽ bị cắt tiên tiến, làm kiểm điểm. Mà học sinh bỏ học trên một phần trăm theo quy định cho phép-cũng sẽ bị nghiêm khắc phê bình, xử lý . Anh Thư cảm thấy mình như đang bị dồn vào giữa mấy bức tường ngộp ngạt, u ám. Chuyện của Trần kể lại với nàng trước đây khi nàng về trường thục tập tưởng như đùa-nhưng lúc này thì nàng mới  cảm thấy cười ra nước mắt! Trần thuật lại mấy lần anh “ được mời” lên phòng “ thảo luận” về phương pháp dạy khi lớp anh hai năm liền có tỷ lệ học sinh thi lại và ở lại lớp khá cao.Vị phó phòng phụ trách chuyên môn ân cần thảy cho anh xấp giấy: “ Anh làm ơn viết lại phương pháp dạy của anh thế nào cho chúng tôi được nắm nhé?”. Và Trần cắm cúi viết đầy mấy trang giấy rồi giao nộp, ra về. Ngày nghỉ hôm sau-anh lại được “ mời “ lên phòng làm việc tiếp về “ phương pháp dạy học chưa hoàn chình” của anh! Thế là Trần ngồi miệt mài viết tiếp. Ba bốn lần liên tiếp trong tháng Trần được “ chiếu cố” mời lên phòng-anh mới “ ngộ” ra-sự thành thật của anh là quá dại dột! Cả trường-lớp nào cũng đều đạt tỷ lệ học sinh đủ điếm, lên lớp xấp xỉ trăm phần trăm, nhưng chỉ có một lớp của anh là dưới tám mươi phần trăm! Ban giám hiệu nhiều lần góp ý, yêu cầu anh chỉnh sửa lại kết quả tồng kết nhưng Trần đều từ chối. Lời vị phó phòng như đâm thủng vào tai anh sau mấy lượt đọc  bài viết về phương pháp dạy học của anh : “ Phương pháp dạy của anh không đạt, không hoàn chỉnh-không tốt-nên học sinh của anh ở lại lớp nhiều vậy là đúng rồi! Anh thật sự không có khả năng dạy học dù anh đã vào nghề gần mười năm nay…”. Trần nhìn Anh Thư-cười : “ Sau đó, em biết không-lớp anh chủ nhiệm luôn luôn đạt trăm phần trăm cơ đấy!”… 
      

               Sau giờ tan trường, Anh Thư quyết dịnh ghé lại thăm Trần. Cả tuần nay nàng không đến thăm anh-cũng cảm thấy nhớ. Trần là giáo viên hướng dẫn thực tập cho nàng trước đây, sau hơn một tháng được gần gũi, trò chuyện-Anh Thư cảm thấy ở Trần nhiều tính cách rát đáng quý. Từ sự quý trọng, cho đến khi sắp rời xa anh trở lại trường-Anh Thư có cảm giác hình như là mình đã yêu Trần rồi? Cái bâng khuâng mong manh, cái buồn nhớ man mác ấy tuy rất mỏng, rất mờ nhạt-nhưng dường như nó không bao giờ mất-không mất mà ngày càng hiện rõ hơn trong tâm hồn trong trắng dạt dào yêu thương của nàng nữa. Tình yêu như cây hoa đến tiết, đến mùa thì nở-Anh Thư thường ngẫm nghĩ so sánh vậy khi nhớ lại buổi chiều cùng ngồi ở Quán Mây- đáp lại lởi yêu thương chân thành của Trần bằng nụ hôn đầu tiên trong đời mình.

                  Đang ngồi trước máy vi tính đặt trong phòng-nhìn qua khung cửa sổ - thấy Anh Thư đang chào hỏi mẹ anh ở sân-Trần vội  click “ Turn Off” rồi khoát vội tấm áo bước ra khỏi phòng: “ Chào em! Chiều nay cô giáo được thư thả nhỉ?

                 - Em có chút chuyện cần hỏi anh mà?-Anh Thư cười, tiến đến ngồi vào chiếc ghế salon mousse tự nhiên như mọi khi ghé lại với Trần.

    font size="4" face="Times New Roman">             - Em đến là để hỏi chuyện chứ không phải thăm anh sao?-Trần cười tự nhiên- nhìn lươt qua khuôn mặt nhợt nhạt của Anh Thư -Chuyện gì mà gấp vậy em?- Trần thong thả rót trà ra tách-Em uống nước đã…

                 - Ăn uống gì nỗi nữa anh ?-nàng xịu mặt như chiếc bong bóng bị thủng- lại nhìn Trần, gượng cười.

                 - Chuyện gì thì cũng phải lo ăn uống đã chứ?-Trần nhìn nàng dò xét-“ có thực mới vực được đạo” mà?

                  Anh Thư đã thuật lai mọi chuyện ở lớp, về lão Mịch-nhất là buổi chiều nay lão đã làm khuấy động cả trường vì nghỉ việc học của Thị.Giọng nàng khẩn thiết:

                  - Như vậy, theo anh nghĩ,em phải đối phó như thế nào?

                 Trần cười tỉnh bơ: “ Dễ mà!”- liếc nhìn-“ Chuyện của em  đơn giản thôi!”

                  - Dễ nghĩa là sao? Anh Thư vẫn đăm đăm nhìn vào mặt Trần như để tìm kiếm một câu trả lời  trên gương mặt bình thản của anh.

                  -  Nghĩa là: Một là em cương quyết để cho Thị nghỉ học cho đến khi nào lão Mịch chịu thực hiện đúng quy dịnh của nhà trương đem tiền đến nộp lại cho em…

                Trần nâng tách trà trao cho Anh Thư : “ Em uống nước đi!”- và anh cũng bưng một tách uống một ngụm .Anh Thư đỡ lấy tách trà nhưng không uống-nàng giục: “ Còn thứ hai là gì? “

                 -  Thứ hai à? Trần lại cười-Em đến ngay nhà lão Mịch năn nỉ lão để cho Thi đi học lại và đừng bao giờ nhắc đến chuyện tiền bạc, quy định ,vân vân với Thi nữa…

                 Anh Thư thở dài: “ Vậy thì còn gì thể diện của thầy cô nữa, anh? “

                 - Thể diện nào? Trần rút một điếu thuốc, bật quẹt-châm lửa-Có thể diện nào nữa mà mất?

                 Để thuyết phục Anh Thư làm theo “ phương án” thứ hai-Trần kể: “ Mới tuần trước đây thôi, anh hơi nặng lời với cậu học sinh ngổ ngáo ngồi gác chân lên bàn-cậu ấy nhìn anh như muốn nuốt sống-và hôm sau nghỉ học ngay, dù kỳ thi đang bắt đầu! Anh đã phải đến nhà phụ huynh nhắc nhở, “ động viên” nó đi học để thi! Gặp nó ở sân-anh khuyên nó nên đi thi, chỉ còn không đầy 2 tháng là hết năm học, chuyễn cấp 3 rồi-nó tỉnh bơ nói em không cần thi nữa! Phải gặp nó thêm lần nữa, nó mới chịu đi thi! Lớp anh có đến 3 chàng “ ngự lâm pháo thủ” như vậy em à! Còn “lính lát” thì cũng nhiều!”

                - Buồn vậy sao, anh?-Anh Thư hớp một ngụm nước-thở dài.

                - Em tường học sinh chúng không biết gì sao?-Trần hơi nhíu mày- trầm ngâm giây lâu-Chúng biết rất rõ luật định là thầy cô không được rầy la hay đánh nó, càng không được quyền đuổi học nó- đã có đứa làm đơn gởi xuống Sở rồi chỉ vì cô giáo chủ nhiệm “ hăm he” đuổi học và nặng lời trách mắng khi nó quậy phá không cho lớp học trong các giờ của giáo viên khác!  May mà cô ta không đánh nó roi nào?.

               - Có thật vậy sao anh? Anh Thư ngạc nhiên như từ trên trời vừa rơi xuống.-Mới học lớp 8, lớp 9 mà đã kiện thưa thầy cô rồi sao?

               - Còn nữa-Trần cười, chuyện dài mà em-vài năm nữa em cũng sẽ nếm đủ đấy!

               Im lặng giây lâu-Trần lại đốt thêm một điếu thuốc-thở khói nhẹ nhàng-nhìn Anh Thư qua làn khói mỏng-anh cảm thấy nàng thật thơ ngây, hiền thục-một mẫu người mà Trần đã từng mơ ước bấy lâu nay đang ngồi trước mặt anh, và cũng đang đi dần vào dời sống anh từng ngày thương nhớ. Trần kể lại chuyện một thư năc danh vu cáo Trương đủ thứ chuyện trên đời- nào là bất chính, đánh mắng hoc sinh, bỏ lớp- dạy không nhiệt  tình vân vân –gởi lên Ủy Ban Nhân Dân tình và Sở Giáo dục chỉ vì lòng tị hiềm đố kỵ của một tay “ nhà thơ” lơ tơ mơ ba trợn đã bị Trương gạt bỏ không chon đăng bài trong một tạp chí mà anh nhận biên tập giúp! Vậy mà Trương cũng đã phải “ vất vả” nhiều phen dự họp, tự khai, mới được yên!

               - Thầy Trương hiền vậy mà, anh? Anh Thư dựa lưng ra thành ghế-có vẻ thoải mái, gương mặt đã tươi tỉnh trở lại.

              -  Trương ra trường trước anh, là một tổng phụ trách gương mẫu, giáo viên dạy giõi cấp tỉnh, và luôn năng nổ trong các công tác ở trường-Trần cười lớn, nhờ vậy cái thư nặc danh kia mới dược các cấp xếp lại nếu không thì không biết sẽ lận đận đến bao giờ?

                Anh Thư vui vẻ kể lại chuyện nàng cùng chị Minh đi thăm gia đình phụ huynh học sinh theo chỉ tiêu đã quy định  vào chiều thứ bảy tuần trước: Hai người vào đến sân, ông phụ huynh mặc quàn xà lỏn đang đứng trên đống rơm cao nhìn thấy nhưng vẫn thản nhiên chất tiếp những vạt rơm-nói vói xuống: “ Hai cô đứng đợi tôi làm xong sẽ xuống nói chuyện nhé? “. Chị Minh ngước lên nhìn, không biết thấy gì-bẻn lẻn kéo tay em “ thôi về mày ?-đứng ở đây lâu kỳ quá? “.

             - Em có thấy gì không?-Trần cười vui-chuyện đi thăm gia đình phụ huynh cũng nhiêu khê lắm, em à!

             - Mà anh đã đi thăm “ đủ chỉ tiêu” chưa?

             - Anh là người địa phương ở đây nhưng họ cũng ít nể nang chịu ngồi lại nói chuyện khi đến thăm-có người gặp anh ở sân đã vội nói: “ Thầy đua giấy tôi ký cho!” rồi vội biến đi với công việc. Họ làm y như mình đi “ xin chữ ký” của họ về làm bảo vật không bằng? –Trần thở ra-Sự nghèo khổ túng quẩn đôi khi đã làm thay đổi họ như vậy em ạ!

              Mẹ của Trần đem hai trái dùa Sim đã được bà gọt sạch vỏ, vạt sẵn một vùng ở chỏm- bước vào ngồi bên cạnh Anh Thư: “ Con uống nước dừa đi! Bác mới hái xuống đấy, ngọt lắm!”

              Anh Thư đỡ trái dừa từ tay mẹ Trần-nhìn Trần, chúm chím cười… 
     

    Tháng 03 năm 2010





    © Tác giả giữ bản quyền.
    . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Bình Định ngày 09.04.2010.

    Viết bởi vietvanmoi, 09 April 2010 13:47 | Chung | Góp ý (0) | Đường dẫn cố định | Trackbacks (0) | Bản inBản in

    1 2 3 4 5 6 7 8 9  Sau»